GIỚI THỊÊU BIÊN KHẢO LỊCH SỬ BẰNG ANH NGỮ – THE VIETNAMESE NATIONAL MILITARY ACADEMY AND THE VIETNAM WAR (1948 – 1975)

(Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam và Chiến Tranh Việt Nam)

CSVSQ Nguyễn Sanh, Khóa 28 TVBQGVN

Tháng 12 năm 2017, sách “Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Theo Dòng Lịch sử” được xuất bản. Đây là tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), do chính các Cựu Sinh Viên Sĩ Quan (CSVSQ) của TVBQGVN thực hiện.

(link: “giới thiệu sách TVBQGVN – TDLS”). https://www.facebook.com/anthonyha2017/posts/2815905172002245/

Sau quyển sách trên, rất nhiều CSVSQ của TVBQGVN bày tỏ ước mong được nhìn thấy một tác phẩm viết về TVBQGVN và về Chiến Tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ, để giúp cho các thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại, hiểu biết về cuộc chiến tranh Quốc-Cộng trước năm 1975. Lý do chiến đấu và hy sinh của người lính Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tranh tự vệ, chống lại sự xâm lăng tàn bạo của Cộng Sản để bảo vệ nền Dân Chủ còn non trẻ của dân tộc Việt Nam, đồng thời bảo vệ lý tưởng Tự Do cho người dân miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó là lịch sử của TVBQGVN và sứ mệnh của người sĩ quan xuất thân từ ngôi trường này trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam.

Để đáp lại niềm mong ước đó, tháng 8 năm 2018, một số CSVSQ của năm khóa (K10, K14, K24, K25 và K28) đã thành lập một ban biên soạn, với mục đích là thực hiện một biên khảo lịch sử về TVBQGVN và chiến tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ, nhằm giúp hiểu rõ hơn về đất nước Việt Nam và về TVBQGVN. Đồng thời tác phẩm này sẽ cung cấp thêm một cái nhìn khác về chiến tranh Việt Nam của những người lính Việt Nam Cộng Hòa, những người đã từng tham dự trực tiếp vào cuộc chiến tranh này, gởi đến cho các đối tượng sau đây:

– Các thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại không rành Việt Ngữ;

– Các quân nhân Hoa Kỳ gốc Việt,

– Các nhà nghiên cứu lịch sử, đặc biệt là về chiến tranh Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, biên khảo lịch sử THE VIETNAMESE NATIONAL MILITARY ACADEMY AND THE VIETNAM WAR (1948 – 1975) đã được thực hiện.

Ngoài các đề mục thông thường của một tác phẩm lịch sử cần phải có, nội dung của tập biên khảo lịch sử này có các đề mục chính sau đây:

1- Lời mở đầu: Một truyền thống của TVBQGVN (Prologue: A Vietnamese National Military Academy Tradition): Xuất phát từ truyền thống ái quốc mà TVBQGVN đã truyền đạt cho các SVSQ trong thời gian thụ huấn, được thể hiện qua tên gọi của nhiều khóa, qua các ca khúc quân hành, qua các khẩu hiệu trong doanh trại, qua các vở kịch lịch sử trong ngày mãn khóa…. tất cả những dữ kiện này có cùng một mục đích là hun đúc lòng ái quốc cho người SVSQ, và nâng cao tinh thần phục vụ của người SVSQ đối với quốc gia và dân tộc.

Cũng trong đề mục này, lịch sử và địa lý Việt Nam được trình bày khái quát nhưng đầy đủ, kể từ khi lập quốc cho đến ngày hôm nay. Những thăng trầm của dân tộc Việt Nam qua từng giai đoạn: Từ thời kỳ lập quốc, Bắc Thuộc, cuộc Nam Tiến kéo dài 700 năm, Pháp Thuộc, cho đến hoàn cảnh hiện nay. Phần này được trình bày như một “toát yếu” về lịch sử và địa lý, giúp cho độc giả trong thế hệ trẻ có được những hiểu biết căn bản về đất nước và dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ.

2- Phần I: TVBQGVN lịch sử hình thành và phát triển (Part I: The VNMA in the Passage of History): Dựa vào nội dung của sách TVBQGVN Theo Dòng Lịch Sử, về tiến trình hình thành và phát triển của TVBQGVN kéo dài trong 27 năm (1948-1975). Những thay đổi về trường sở, mục tiêu và đường hướng huấn luyện theo nhu cầu của quốc gia và những biến chuyển của chiến trường; những truyền thống và cơ cấu tổ chức của trường cũng được trình bày ở trong phần này.

3- Phần II: Các Khóa của TVBQGVN (Part II: The VNMA: Three Decades of Country, Honor, Duty and Traditions, 1948 – 1975): Đây là phần lược sử các khóa được lấy từ sách TVBQGVN Theo Dòng Lịch Sử. Đặc biệt những sự kiện chính trị và quân sự trong khoảng thời gian tuyển mộ, thụ huấn và mãn khóa của mỗi khóa được đề cập đến, cho thấy ảnh hưởng của chính trường và chiến trường Việt Nam đã có tác động khác nhau lên thành quả, và sự hy sinh của các sĩ quan tốt nghiệp của từng khóa.

4- Lời Bạt: TVBQGVN trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam (Epilogue: The VNMA in the context of the Vietnam War).  Phần này trình bày nhiệm vụ của các SVSQ tốt nghiệp, và đồng thời đề cập đến những hy sinh và cống hiến của các sĩ quan xuất thân từ TVBQGVN trong chiến tranh Việt Nam. TVBQGVN đào tạo những sĩ quan nòng cốt cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam tiền thân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH), vì thế lịch sử của TVBQGVN gắn liền với lịch sử của chiến tranh Việt Nam.

Cũng trong phần này, những lý do đưa đến sự thất bại của Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam được phân tích và bình luận. Dựa trên những chứng cớ và sự kiện lịch sử đã xảy ra trên các bình diện chính trị, quân sự và địa chính trị như: Ý đồ xâm lăng miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt ngay từ khi đất nước bị chia đôi (1954), chủ thuyết Domino bị bỏ dở nửa chừng, cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 đưa đến những hệ lụy: sự khủng hoảng lãnh đạo của miền Nam và quốc sách Ấp Chiến Lược bị xóa bỏ; cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân của Cộng Sản Bắc Việt, sự thất bại của chiến dịch Lam Sơn 719 (1971), chương trình Việt Nam Hóa chiến tranh, quan điểm bất nhất của Hoa Kỳ về chiến tranh Việt Nam; Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), Hiệp Định Paris 1973, khuynh hướng bài chiến tranh của phần lớn truyền thông Hoa Kỳ, sự thiếu vắng một chiến lược bền vững, sự yếu kém về tình báo, chiến thuật, việc trang bị vũ khí muộn màng cho QLVNCH so với đối phương…

Phần này có thể xem như một cái nhìn về chiến tranh Việt Nam của người sĩ quan xuất thân từ TVBQGVN.

5- Những chữ viết tắt, từ ngữ quân sự, danh từ riêng, địa danh cần giải thích (Glossary of Abbreviations and Terms)

6- Phần phụ lục (Appendices): để giúp làm rõ hơn và phong phú hơn những đề mục chính trong nội dung của tập biên khảo, đã có thêm các phụ lục sau đây:

– Tiến trình hình thành của Quốc Gia Việt Nam (Vietnam as A Country): Căn bản về lịch sử và địa lý Việt Nam qua các thời kỳ: quốc hiệu, lãnh thổ, các trận đánh lớn bằng hình thức đối chiếu.

– Hành trình của ngôn ngữ Việt Nam (Journey of the Vietnamese Language): kể từ thời lập quốc cho đến thời cận đại.

– Vai trò của TVBQGVN trong quốc gia Việt Nam Cộng Hòa (The role of the VNMA in the Republic of Vietnam), của Cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi, Cựu Chỉ Huy Trưởng TVBQGVN 1968-1972.

– Đà Lạt nổi nhớ không rời (Đà Lạt, the City of Remembrance): Lịch sử của thành phố, những hình ảnh yêu quý của “Đà Lạt ngày tháng cũ” trước năm 1975, trong nỗi nhớ không rời của người sĩ quan xuất thân từ TVBQGVN. Lý do của tên gọi hàm chứa niềm tin tưởng và thương mến của người dân miền Nam đối với người “Sĩ Quan Đà Lạt”.

– Bài phản biện loạt phim truyền hình “Vietnam: A television History (1983)” “PBS’ Vietnam: A Television History Series: A History or Just Another Story? – A South Vietnamese Perspective”.

– Thư mục chọn lọc (Selected bibliography in English Language RVNAF author): Liệt kê một số tác phẩm viết về Chiến Tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ của các cựu tướng lãnh và cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

7- Niên Biểu Lịch Sử: TVBQGVN và Chiến Tranh Việt Nam qua những sự kiện lịch sử theo dòng thời gian (The Synoptic Outline of The VNMA and Việt Nam War in the Passage of History 1945-  1975): Phần này trình bày quá trình của chiến tranh Việt Nam và TVBQGVN qua việc đào tạo sĩ quan các khóa trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam ngày càng lan rộng và khốc liệt theo thứ tự thời gian (1945 – 1975). Những sự kiện chính trị, quân sự đã ảnh hưởng lên các khóa của TVBQGVN như thế nào, những thay đổi quan trọng của QLVNCH về cơ cấu tổ chức, trang bị; tiến trình rút lui của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh ra khỏi chiến trường Việt Nam, Hiệp Định Paris 1973 và những đạo luật, nghị quyết của Quốc Hội Hoa Kỳ liên quan tới chiến tranh Việt nam cũng được đề cập đến trong phần này.

8- Ban Biên Soạn (The Editorial Board):

– Nguyễn Cao Đàm PhD (VNMA Class 14,1960) Chief Editor

– Trần Mộng Di (VNMA Class 10, 1954)  Institutional Advisor

– Lưu Xuân Phước (VNMA Class 24, 1971) Editor

– Nguyễn Anh Dũng MRE, PE (VNMA Class 25, 1972) Editor

–  Nguyễn Sanh (VNMA Class 28, 1975) Editor

–  Huỳnh Tiến (VNMA Class 28, 1975) Editor/Publisher

9- Hình thức của tập biên khảo: Do ban Biện Soạn tự thực hiện, cuốn biên khảo được in trên khổ giấy 7’’x10”, trình bày trang nhã, dày gần 400 trang, với nhiều hình ảnh có giá trị lịch sử về TVBQGVN.

Sách đã được phát hành tại Amazon vào ngày 28 tháng 12 năm 2020 với giá $15.99 một quyển. Độc giả muốn đặt mua tập biên khảo lịch sử “The Vietnamese National Military Academy and The Việt Nam War (1948 – 1975)” xin mở link này: https://amzn.to/3pE4yMF

Từ miền Tây Bắc Hoa Kỳ, ngày 30 tháng 12 năm 2020

Trân trọng giới thiệu và kính chúc một năm mới an khang, hạnh phúc.

CSVSQ Nguyễn Sanh, Khóa 28 TVBQGVN

Posted in Bài vở của nhiều tác giả, Đời Sống Quanh Ta | Leave a comment

Audio: Cha và con

Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình
Đề tài: Cha và con


Thời lượng: 30 phút

Chân thành cảm ơn quý thính giả đã bỏ thì giờ để theo dõi.
Xin quý thính giả vui lòng giúp chuyển đến nhiều người khác.

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Audio: Nhịn Nhục Hay Khiếp Nhược?

Bài giảng luận: 25 phút
Đề tài: Nhịn nhục hay khiếp nhược?
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

 

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Audio: Bảo Thủ Hay Tự Do

Bài giảng luận: 24 phút
Đề tài: Bảo thủ hay tự do
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

 

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Audio: Trí Thức và Tri Thức

Bài giảng luận: 25 phút
Đề tài: Trí thức và tri thức
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

 

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Lòng Chung Thuỷ!

Huỳnh Quốc Bình

…Ai thiếu sự thuỷ chung sẽ dễ dàng phạm tội và trở thành những kẻ mà thế gian nguyền rủa là đồ vô lại hay thứ bất lương…

Văn chương Việt Nam có nhiều câu truyện hay điển tích nói lên ý nghĩa của sự thủy chung. Các câu truyện nổi bật nhất là truyện hai anh em nhà họ Cao cùng với cô con gái họ Lưu trong “Sự Tích Trầu Cau”, truyện “Lưu Bình Dương Lễ” và truyện “Trần Minh Khố Chuối”.

Lịch sử cận đại có những người phụ nữ Việt Nam hay những người vợ trẻ chấp nhận cuộc sống thiếu thốn, gian khổ, cô đơn, để chờ ngày chồng mình trở về dù biết rằng sự đoàn tụ rất mong manh bởi vì họ bị giam cầm không bản án trong các nhà tù khổ sai của chế độ Việt cộng sau ngày 30-4-75.

Hình minh họa: Trại tù khổ sai không bản án của chế độ Việt cộng có tên gọi là “cải tạo” sau ngày 30-4-75

Ca dao Việt Nam có những câu nói lên sự chung thủy trong tình chồng vợ.

Đất có bồi có lở,
Người có dở có hay.
Em nguyền một tấm lòng ngay
Đinh ninh một dạ đến ngày trăm năm.

Trong tình chồng vợ hay tình yêu đôi lứa, việc chờ đợi một người vì hoàn cảnh khắc nghiệt phải xa cách nhau, có thể dễ cho người ở vị trí đợi chờ giữ trọn sự thủy chung, bởi vì sự thương hại. Chờ một người đã phản bội mình và mong rằng người đó quay trở lại, mới là chuyện khó.

Tình anh em ruột thịt, bạn bè, đồng đội, chiến hữu, đồng chí, tình quê hương dân tộc, và tình anh em trong niềm tin Thiên Chúa, đều cần phải có sự thuỷ chung. Thiếu sự thuỷ chung, ý nghĩa của các tình cảm đó không còn giá trị nữa, mà nó chỉ là những danh từ hay thành ngữ rỗng tuếch. Thà chúng ta ít học, thà chúng ta không nhận mình là người có đạo hay có Chúa ở cùng, mà có sự thuỷ chung, hơn là một người khoa bảng, nhận mình là Cơ Đốc Nhân nhưng có lòng dạ phản trắc hay trở mặt với các thứ tình cảm cao đẹp mà tôi vừa nêu. Kẻ nào có lòng dạ phản trắc hay thiếu sự thủy chung hoặc phản bội ân nhân sẽ không đủ tư cách để dạy lẽ đạo hay dạy đời người khác. Đối với bọn đó, người tử tế có quyền không dành cho chúng sự kính trọng hay trân trọng dù là tối thiểu.

Một Cơ Đốc Nhân chối bỏ lẽ đạo mà mình đã nhận là thiếu sự thuỷ chung. Trong phạm trù “chối bỏ lẽ đạo” mà tôi muốn nói, không chỉ là hành động bỏ đạo mà là những lời nói hay các việc làm ngược lại những gì mình đã học, đã biết, hay đã dạy người khác. Hình ảnh các môn đồ và các đoàn dân từng theo Chúa Cứu Thế Jesus để nghe những lời phán dạy của Ngài, nhưng sau đó họ đã im lặng không dám lên tiếng bênh vực Ngài, hay chối bỏ Ngài, đều nói lên sự thiếu thuỷ chung trong thời điểm đó. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua lời phán của Chúa Cứu Thế Jesus trong Phúc Âm Giăng 8:31-32. Câu 31 ghi, “Bấy giờ Ngài phán cùng những người Giu Đa đã tin Ngài, rằng: ‘Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta.'” Sự thuỷ chung đưa đến kết quả gì? Câu 32 đã nói lên điều đó, “Các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi.”

Nói đến sự chung thuỷ, người ta sẽ không quên lòng trung thành giữa người này và kẻ khác. Sự trung thành một cách đúng nghĩa nói lên tính liêm sỉ của một con người. Sự trung thành một cách mù quáng là ươn hèn và yếu kém trong bản chất tầm thường của một con người tội lỗi. Người có nhân cách, thà người ta “cạp đất” mà ăn còn hơn hưởng sự giàu sang, mà trở thành kẻ phản bội anh em và các loại tình cảm thiêng liêng khác, tàn tệ nhất là phản bội ngay chính ân nhân của mình.

Có người đã ví những kẻ thiếu sự thủy chung hoặc phản bội ân nhân là thua loài chó, “chó không phản chủ”. Thật ra, sự so sánh này rất khập khiễng, bởi người là người, chó là chó. Bản chất của loài chó là trung thành tuyệt đối với chủ của nó, ngoại trừ chó điên.

Hình ảnh minh họa: Chỉ có chó điên mới phản chủ

Riêng loài người có hình ảnh của Thiên Chúa và có trí tuệ, lương tri mà Thiên Chúa ban cho. Người bình thường là người biết phải, biết quấy, và người ta gọi đó là người tử tế. Những kẻ chẳng biết gì phải quấy và thiếu sự trung thành với người đáng trung thành, người ta gọi đó là đồ phản phúc hay thứ bất lương.

Làm chủ một công ty hoặc công sở, người ta cần gì ở người cộng sự viên, người công nhân, hay người quản lý? Người ta cần lòng trung thành của người quản lý và nhân công. Trong Kinh Thánh có nhắc đến lòng trung thành. Sứ Đồ Phao-lô đã nói, “Vả lại, cái điều người ta trông mong nơi người quản trị là phải trung thành” (1 Cô-rinh-tô 4:2).

Trong văn hoá Á Đông, lòng trung thành giữa chủ và nhân công rất nổi bật. Trong xã hội Tây Phương, vấn đề trung thành rất lu mờ. Người ta thường đến với nhau vì quyền lợi đôi bên theo kiểu, “Còn bạc còn tiền còn đệ tử. Hết cơm hết gạo hết ông tôi.” Trong các nước Tây Phương, khi chủ cần bớt người, họ cho nhân công nghỉ việc. Nhân công thấy chỗ khác trả lương hậu hĩ hay quyền lợi cao là họ bỏ việc v.v…

Thiếu lòng trung thành hay thiếu sự thủy chung, con người dễ phản bội nhau chỉ vì những danh vọng hảo huyền, những loại chức quyền tạm bợ. Để biện minh cho sự phản trắc đó, người ta đưa ra nhiều lý lẽ, lý do dường như “chính đáng” và “chính nghĩa”, nhưng thực chất đó chỉ là sự phản trắc hay phản bội nhau một cách trắng trợn và phũ phàng của bọn bất lương.

Lịch sử cận đại cho thấy trong cuộc chính biến, đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngày 1-11-63, cho dù người ta có thích hay không thích gia đình nhà họ Ngô, người ta cũng phải thấy điều này; thành phần phản bội Cụ Diệm không phải là những người chiến đấu gian khổ ngoài các mặt trận, mà chính là những kẻ từng hưởng bổng lộc của chính phủ và chịu ơn gia đình họ Ngô. Đó cũng là những kẻ từng khúm núm hay đứng “cong lưng” trong những khi đối diện với Tổng Thống Diệm.

Tôi từng hân hạnh đọc sách Cách Xử Thế Của Người Xưa và tôi nhớ đại khái ý niệm này, “Châm ngôn của những người có quyền chức lớn, đó là, khi có kẻ đến quỳ mọp dưới chân anh, anh phải lấy chân mà đè đầu nó xuống, vì nếu không khéo, nó sẽ trổi dậy để cắn anh.”

Nhiều người dễ tính hay dễ tin đã từng trả giá cho sự dễ tính hay dễ tin đó. Trong số người đó, có tôi. Tuy nhiên, kẻ phản trắc chỉ có thể phản bội tôi được một lần, và tôi thầm tạ ơn Chúa đã cho tôi không làm công việc trả thù, mà tôi đã giao phó cho Chúa, cho “cơn thạnh nộ của Ngài”. Tạ ơn Chúa vì mỗi ngày Chúa cho tôi học thêm bài học nhân từ, hài hoà, nhưng không phải loại nhân từ, hài hoà không đúng lúc, đúng chỗ, mà tôi từng phạm phải.

Trong các sinh hoạt hằng ngày ngoài đời, người ta cần người cộng sự có lòng trung thành bao nhiêu, trong đạo của Chúa, người ta cũng cần những người có lòng trung tín với Chúa và với người, bấy nhiêu. Những nơi được gọi là “Hội Thánh” không thể có những cấp lãnh đạo ham chức quyền mà không quan tâm đến những bạn đồng lao của mình. Những nơi được gọi là “Hội Thánh”không thể có những kẻ chỉ chực hờ đạp người khác để “chui sâu, trèo cao” và vinh thân phì gia bằng những thủ đoạn đê tiện.

Trong Kinh Thánh chép bức thư của Sứ Đồ Phao-lô gởi cho người Phi-líp. Phao-lô đã lượng giá cao về Ti-mô-thê (Timothy), “Thật vậy, tôi không có ai khác có cùng một tâm tình như Ti-mô-thê, là người thật tình lo lắng cho anh chị em. Vì ai nấy đều tìm lợi ích riêng cho mình chứ không tìm lợi ích cho Chúa Cứu Thế Jesus. Nhưng anh chị em biết phẩm cách của Ti-mô-thê, người đã cùng tôi, như con với cha, phục vụ Phúc Âm” (Phi Líp 2:20-22).

Nếu người nào nhận mình là “Con Cái Chúa” hay “Đầy Tớ Chúa”, khi đọc Kinh Thánh qua bức thư của Sứ Đồ Phao-lô gởi cho cộng sự viên Tít, được chép trong sách Tít (Titus) 2:1-10 đã giúp cho người đọc thấy rằng, hãy dạy những gì phù hợp với giáo lý lành mạnh. Dạy người lớn tuổi phải biết tiết độ, nghiêm trang, khôn ngoan, vững vàng trong đức tin, yêu thương và kiên nhẫn. Dạy các phụ nữ lớn tuổi phải có tác phong thánh khiết, đừng nói xấu người khác, đừng nghiện rượu, phải biết dạy điều lành để họ có thể dạy các thiếu nữ trẻ tuổi yêu chồng con, khôn ngoan và trong sạch, chăm lo việc nhà và thuận phục chồng để lời dạy của Chúa không bị phê phán. Các thanh niên phải khôn ngoan, trong mọi sự phải biết nêu gương về việc làm phúc. Khi dạy dỗ, hãy tỏ ra chân thật và nghiêm chỉnh. Hãy nói chân lý lành mạnh để không ai chỉ trích và để những người chống đối mình sẽ xấu hổ vì họ chẳng có dịp để bêu xấu chúng ta. Dạy người làm công phải luôn luôn vâng phục chủ, cố gắng làm vừa lòng chủ, không được cãi lại. Không được trộm cắp đồ của chủ; trái lại, phải tỏ ra mình hoàn toàn đáng tin để trong mọi việc, đạo lý của Chúa thu hút mọi người.

Kết luận

Lòng chung thuỷ, sự thủy chung, trung thành, hay trung tín rất cần có trong sinh hoạt của con người, nhất là những nơi được gọi là “Hội Thánh”. Nếu ai thiếu lòng chung thuỷ với người phối ngẫu, người thân, bạn bè, chiến hữu, đồng đội, hoặc đồng chí, người đó sẽ cho phép người khác khinh thường và xa lánh mình.

Thiếu lòng chung thuỷ, người ta sẽ không dạy được con cái của mình chứ đừng hòng dạy người khác. Sự thuỷ chung còn là chất keo cho tình đoàn kết. Sự thuỷ chung mang đến thành công trên mọi phương diện. Ai thiếu sự thuỷ chung sẽ dễ dàng phạm tội và trở thành những kẻ mà thế gian nguyền rủa là đồ vô lại hay thứ bất lương.

Cầu xin Chúa cho chúng ta luôn kính sợ Ngài, có lòng chung thuỷ với những người tử tế, biết xa lánh hay vứt bỏ những thứ gì có tính cách tạm bợ, danh hảo, sắc dục tầm thường của đời, có lòng trung tín hay trung thành với lẽ đạo của Thiên Chúa mà chúng ta đã nhận lãnh. Nếu chúng ta ở vị trí lãnh đạo giáo hội hay Hội Thánh, hoặc dạy lẽ đạo cho người khác mà chính mình có những lời nói gian dối hay hành động gian ác, vô đạo, thích ngụp lặn trong tội lỗi bằng “vỏ bọc thiêng liêng”… Hãy coi chừng, Nước Thiên Đàng không thể dành cho những kẻ bất lương. Con dân Chúa có thể phạm tội một lần hay nhiều lần, nhưng thái độ “ủ tội” không biết ăn năn, không thể là người tin Chúa thật, hay người biết kính sợ Chúa một cách đúng nghĩa. Người nào không tin Chúa một cách đúng nghĩa, cần phải suy sét và điều chỉnh lại đức tin của mình trước khi quá muộn.

Huỳnh Quốc Bình

E-mail: huynhquocbinh@yahoo.com

www.huynhquocbinh.net

Posted in Những Chuyện Khó Nói, Tác giả Huỳnh Quốc Bình | 1 Comment

Audio: Xúc Phạm Nhau

Bài giảng luận: 25 phút
Đề tài: Xúc Phạm Nhau
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Audio: Sống Đạo

Bài giảng 26 phút
Đề tài: Sống Đạo
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Audio: Mẹ và con

Bài giảng 30 phút
Đề tài: Mẹ và con

Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

Chân thành cảm ơn quý thính giả đã bỏ thì giờ để theo dõi.
Xin quý thính giả vui lòng giúp chuyển đến nhiều người khác.

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Công Cha Nghĩa Mẹ!

Huỳnh Quốc Bình

… Đừng để cha mẹ mình lúc còn sống phải ở “nhà lá” nhưng sau khi các vị qua đời, mình lại tranh nhau xây “nhà lầu” cho họ ở…

Người Việt Nam có nhiều điển tích và chuyện dụ ngôn đề cập đến những người con có lòng hiếu thảo với cha mẹ, hoặc bất hiếu với cha mẹ. Người Trung Hoa có “Nhị Thập Tứ Hiếu” (24 tấm gương của những người con hiếu thảo). Điều đáng chú ý, ai cũng biết rằng, lòng hiếu thảo là đáng trọng và kẻ nào bất hiếu với cha mẹ luôn bị người đời khinh khi, xa lánh; tuy nhiên, hình ảnh những người con đối xử tệ bạc với bậc cha mẹ, không phải là hiếm thấy trong xã hội ngày nay.

Một người bất hiếu hay bạc bẽo với cha mẹ, không thể nào có lòng chung thủy với người phối ngẫu. Nếu họ nhẫn tâm ruồng bỏ cha mẹ, anh chị em họ được, có ngày họ cũng sẽ đối xử với mình như thế. Cho nên ai có chồng, hoặc ai có vợ mà tỏ ra hài lòng khi thấy chồng mình hay vợ mình tốt với mình hơn cha mẹ, anh chị em của họ, các bạn hãy cẩn thận, có ngày họ sẽ đối xử với mình một cách tương tự.

Nói đến vị trí con cái, cũng phải công bằng để không tránh né đề cập đến vị trí của bậc cha mẹ. Đối với tôi, cha mẹ nào vô cớ ruồng bỏ con cái của họ được, có ngày họ cũng sẽ cư xử với người khác một cách tương tự. Một người cư xử tệ bạc với cha mẹ hay con cái một cách triền miên, họ không thể nào là một người bạn tốt của chúng ta. Tôi nói điều này và tôi không bao giờ sợ mình nói sai. Vì sự giới hạn của bài viết, tôi không thể dài dòng ở điểm này, nhưng nếu quý độc giả nào, không câu nệ niềm tin tôn giáo và tạm gác một bên yếu tố “không muốn ai mô phạm mình” đều có thể nghe sáu bài giảng luận của tôi về các đề tài “hạnh phúc gia đình” tại Website www.huynhquocbinh.net trong mục Audio “Đời Sống An Bình”

Trong xã hội, thời nào cũng khá giống nhau ở điểm, cha mẹ nuôi con cả đời, không sao, nhưng con cái mới lo cho cha mẹ được vài năm vài tháng lúc tuổi già bóng xế, đã vội kể công. Có người còn nhẫn tâm dằn vặt cha mẹ một cách không nao núng. Người Việt mình có câu, “Một bà mẹ nuôi cả mười đứa con, nhưng mười người con không nuôi nỗi một bà mẹ.” là như vậy. Người đời có những câu vè vô cùng xứng đáng dành cho những ai có thái độ tính toán hay kể công với cha mẹ, có thể suy nghĩ, “Mẹ nuôi con như biển Hồ lay láng, con nuôi Mẹ tính tháng tính ngày.”

Tôi từng nghiêm chỉnh nói thẳng với các con tôi rằng, “Không ít người Việt Nam có chủ trương là họ nuôi con cái lớn khôn cho tròn bổn phận, chứ họ không mong con cái báo đền công ơn sinh dưỡng. Riêng Ba thì khác, ngày nay Ba Mẹ còn khoẻ, còn làm ra tiền, các con muốn cái gì hợp lý Ba Mẹ cũng cho; khi Ba Mẹ già yếu, Ba Mẹ cần các con giúp đỡ, các con nhớ giúp Ba Mẹ nhé…” Khi nói câu này, tôi không mong hay bắt buộc các con tôi phải trả ơn cho vợ chồng tôi, nhưng tôi muốn gieo vào đầu chúng một thông điệp, chúng phải nhớ đến công ơn sinh dưỡng của cha mẹ, bởi các con tôi cũng phải lo lắng và dạy dỗ các con của chúng nó sau này. Kẻ bất hiếu không thể dạy hay mong con cái của họ có lòng hiếu thảo được. Dĩ nhiên, người ta nói “nước mắt chảy xuôi” và tôi cũng ý thức điều đó lắm. Dù vậy, tôi vẫn nửa thật, nửa đùa với các con tôi rằng, “Ba đã nói rõ ý của Ba rồi đó. Mai mốt đứa nào bạc bẽo với Ba  Ba còn tha, chứ bạc bẽo với Mẹ, có guốc tao phang guốc, có gậy tao phang gậy đó nhé…”

Người ta có ghi lại lời nói của Khổng Phu Tử về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, “Bách Thiện Hiếu Vi Tiên”. Ý nghĩa của câu này là, một trăm điều thiện, “hiếu” là thứ nhất, là đi đầu. Một trăm không phải là số 100 mà là rất nhiều, vô lượng. Thiện là điều tốt. Điều tốt nghĩa là các việc làm với lòng chân thành, vì lợi ích của mọi người, của xã hội và tương lai.

Nói về công cha nghĩa mẹ, người Việt chúng ta có nhiều câu Ca Dao xứng đáng cho những người con tạc dạ.

Công cha như núi Thái Sơn.

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha;

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Đây là sự hy sinh của những người mẹ dành cho con cái khi chúng còn nhỏ cho đến lúc trưởng thành.

Ngày đêm mẹ ẵm, mẹ bồng.

Bên ướt mẹ nằm, bên ráo cho con.

Miếng ăn miếng mặc mẹ lo,

Làm sao con được ấm no mẹ mừng.

Hay:

Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,

Năm canh chày thức đủ năm canh.

Cũng vì con chính vì con,

Mỗi ngày mẹ một gầy mòn tấm thân.

Có những bà mẹ sanh con trong cảnh nghèo túng, bà phải vắt từng giọt sữa trong tấm thân khô gầy để mong cho con mình no bụng và chóng lớn khôn. Trên thế giới có nhiều hình ảnh hết sức cảm động và sống động về “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình”, hoặc “Công cha như núi Thái Sơn”. Có nhiều bà mẹ tình nguyện chết để con mình được sống. Trong số đó có những bà mẹ từ chối chữa trị chứng bệnh nan y của mình, bởi các bà không muốn thai nhi trong bụng bị tác hại bởi thuốc gây ra trong thời gian bác sĩ chữa trị cho các bà. Tôi cũng từng chứng kiến những người cha đã chia thận, sang máu cho những người con cần kéo dài cuộc sống. “Công Cha, Nghĩa Mẹ” là như thế đó.

Hiếu kính cha mẹ, chăm sóc và lo lắng cho cha mẹ là bổn phận, là nghĩa vụ, là cái phước của những người con, chứ không phải là cục nợ để rồi thích thì làm, mà không thích thì thôi. Kinh Thánh đã khuyến cáo, “Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm. Hãy tôn kính cha mẹ ngươi (ấy là điều răn thứ nhất, có một lời hứa nối theo),  hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất. (Ê-phê-sô 6:1-3).

Làm con mà khinh khi cha mẹ chỉ vì ngày nay mình học cao hơn, giàu có hơn, văn minh hơn, lụy người phối ngẫu hơn tình của mình đối với cha mẹ, hoặc phải cưu mang cha mẹ ở cái tuổi gần đất xa trời, coi chừng người sẽ chê và Trời không dung. Thánh Kinh có quyết liệt về điều này, “Ðáng rủa sả thay người nào khinh bỉ cha mẹ mình!” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 27: 16)

Con cái lễ độ nhắc nhở cha mẹ ruột hay cha mẹ của người phối ngẫu, khi thấy các vị có những điều sai trật, đó không phải là con bất hiếu, mà chính là con có hiếu. Bất cứ ai a tòng với cha mẹ làm điều sai trật, hoặc thấy cha mẹ làm sai mà không dám cản ngăn, để người đời xem thường cha mẹ, đó mới chính là con bất hiếu. Con cái cần phải vâng phục cha mẹ chứ không ngu muội đắm chìm trong sự yếu đuối của cha mẹ để được tiếng “hiếu thảo”. Thánh Kinh dạy, “Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm”. (Ê-phê-sô 6:1). Khi Thánh Kinh khuyến cáo những người con phải biết vâng lời cha mẹ trong mọi sự, có nghĩa là phải đúng ý Trời và không sai những gì thuộc về luân lý, đạo đức của con người; chứ không thể nghe lời cha giống như câu vè, “Con ơi học lấy nghề cha, một đêm ăn trộm bằng ba năm làm.”

Những ý tưởng xem thường, hay thái độ khinh khi cha mẹ, lợi dụng cha mẹ, lèo lái cha mẹ cho quyền lợi của mình, hay áp lực cha mẹ phải chia cắt tình nghĩa với anh chị em mình cho thoả dạ ganh ghét, đố kỵ, đó là hành động xem thường, khinh khi, rủa sả cha mẹ một cách gián tiếp chứ không phải là có hiếu với cha mẹ. Đây là điều Thánh Kinh cũng có đề cập trong sách Châm-Ngôn 20:20, “Ngọn đèn của kẻ rủa cha mẹ mình, sẽ tắt giữa vùng tăm tối mờ mịt.“ Hoặc “Khi một người nào chửi cha mắng mẹ mình, thì phải bị xử tử: nó đã chửi rủa cha mẹ; huyết nó sẽ đổ lại trên mình nó.” (Lê-vi Ký 20: 9)

Cho dù con cái có bị cha mẹ bạc đãi một cách vô cớ, và nếu vì lý do nào đó mình không thể tiếp tục im lặng, mình cần bày tỏ một lần cho cha mẹ biết và giao phó cho Thiên Chúa. Phải tuyệt đối tiếp tục giữ lòng hiếu thảo, vâng phục cha mẹ, cho dù mình phải đón nhận những điều phũ phàng cay đắng. Trời sẽ không phụ lòng những người con hiếu thảo, vì, “Hỡi kẻ làm con, mọi sự hãy vâng phục cha mẹ mình, vì điều đó đẹp lòng Chúa.” (Cô-lô-se 3: 20)

Có một bà cụ Việt Nam nói với Mục Sư Phan Thanh Bình, tác giả quyển “Tình Già” được ghi lại trong trang 137: “Mục Sư ạ, lúc tôi còn mạnh, tụi con tôi coi tôi như trái banh cà na. Tụi nó chơi Football, banh tới ai là ôm riết, giữ kỹ. Đã có lúc tôi là trái banh đó. Đứa nào cũng muốn tranh nhau giữ tôi để tôi trông con chúng nó. Bây giờ con chúng nó lớn cả rồi. Tôi trở thành trái banh tròn, và tuị nó chơi soccer. Banh tới chân đừa nào là đứa đó đá qua đứa khác. Bây giờ tôi là trái banh bị đá ra khỏi sân…”

Khoảng năm 2003, tôi có đọc một bài báo mà tôi quên tên tác giả, tôi chỉ nhớ tiêu đề ngộ nghĩnh “sống nhà lá chết nhà lầu” và nó đã thu hút tôi đọc trọn bài và nhớ đến ngày nay. Nội dung bài viết tác giả mô tả cảnh con cái bất hiếu với cha mẹ, lúc cha mẹ còn sống, không lo lắng, chăm sóc.

Có người còn nhẫn tâm ruồng bỏ cha mẹ một cách không thương xót. Vì muốn làm vui lòng người phối ngẫu nên họ đã để cho cha mẹ sống ở một xó nào đó, cả tháng nếu không muốn nói là cả năm, chưa đến thăm được một lần. Họ xem cha mẹ như thể là “cục nợ” vứt đi không tiện, mà để lại cũng không xong. Vậy mà khi cha mẹ qua đời, họ xây mồ lớn lắm.

Tranh nhau xây “nhà lầu” cho cha mẹ

Có người sau khi xây xong, nhưng vì thấy người cùng quê về Việt Nam xây mồ cho cha mẹ to lớn hơn nên họ cố “báo hiếu” bằng cách đập bỏ và xây lại cho trội hơn người khác.

Hình minh họa

Không phải chỉ có bài báo ấy nói về điều nghịch lý đó, nhưng ngày nay người ta có nhiều hình ảnh về việc những người con “hiếu thảo” đã không ngại tốn kém bạc tiền, để bằng mọi cách phải cho cha mẹ ở nhà lầu sau khi chết, mặc dù lúc còn sinh tiền, các đấng sinh thành của họ phải ở “nhà lá” và chịu cảnh “ăn mắm húp giòi” giống như câu ca dao, “Mẹ già hết gạo treo niêu, mà anh khăn đỏ khăn điều vắt vai.”

Kế luận

Bất cứ ai có cha mẹ ở cùng nhà, có dịp săn sóc cha mẹ, dù là cha mẹ chồng hay cha mẹ vợ, đó là đại phước cho các bạn, chứ không phải là cục nợ mà các bạn phải gánh. Chúng ta cần sống làm sao, đừng để người đời mỉa mai qua câu vè, “Còn sống thì không cho ăn, thác xuống âm phủ, làm văn tế ruồi.”

Hiếu kính cha mẹ, biết quý trọng “công cha nghĩa mẹ” là điều bắt buộc phải có, chứ không chỉ là nghĩa cử cao đẹp của người này đối với người kia. Thiên Chúa có một lời phán với con người như sau, “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi ban cho. (Xuất Ê-díp-tô Ký 20: 12)

Tôi không còn cha mẹ ruột hay cha mẹ vợ. Hồi cha mẹ vợ tôi còn sinh tiền tôi dặn lòng là cho dù cuộc đời có nhiều thay đổi, lòng người dễ dàng có những đổi thay nhưng tôi sẽ gắng nhớ là không bao giờ xem cha mẹ vợ khác hơn cha mẹ ruột của tôi, giống như Ba tôi từng cư xử tử tế với Ông Bà Ngoại của tôi và cả nhà vợ của Người hơn nửa Thế Kỷ trước. Và tôi cũng hy vọng những gì tôi viết ra hôm nay, không để “dạy đời” người khác, mà để nhắc nhau ý thức rằng, người tử tế cần phải biết cư xử hiếu thảo với cha mẹ mình, hay cha mẹ của người phối ngẫu.

Những ai có vợ có chồng, nên giúp nhau cư xử hiếu thảo và làm tròn bổn phận người con với các đấng sinh thành, bởi vì lòng hiêú thảo là đẹp lòng Trời, thuận lòng người. Các bạn, hay quý vị cần ôm trong vòng tay những con người có lòng hiếu thảo với cha mẹ thay vì “đê mê” với người phối ngẫu vì thấy họ chỉ tốt với mình. Họ mà bạc bẽo với cha mẹ của họ được, thái độ đó sẽ đến với mình không còn xa lắm đâu. Riêng bậc cha mẹ nào đang sung sướng với người con “hiếu thảo” này, cũng đừng cay đắng với người con “bất hiếu” kia, bởi vì người xưa đã nói, “Nhà nghèo, mới hay con thảo, nước loạn mới rõ tôi trung.”

Huỳnh Quốc Bình

email: huynhquocbinh@yahoo.com

www.huynhquocbinh.net

Tác giả viết bài này bên cạnh quyển Thánh Kinh và trước di ảnh của hai Đấng Sinh Thành.

Ghi chú quan trọng dành cho những ai có lòng giúp tác giả quảng bá bài viết này:

1. Bài viết này tác giả viết vào năm 2012, nay hiệu đính cho gọn để các tờ báo giấy giúp đăng tải sẽ dễ dàng hơn.

2. Nếu cơ quan truyền thông nào chọn sử dụng bài viết này, tác giả rất biết ơn, nhưng xin đừng sửa đổi nội dung của nó, vì sẽ làm cho ý của tác giả bị hiểu sai lạc.

3. Khi bài viết này gởi ra lần đầu và những năm kế tiếp, có một tờ báo của Tin Lành tại San Diego, California đã tùy tiện chỉnh sửa nội dung bài viết mà không có sự đồng ý của tôi, khiến nhiều người hiểu sai ý của tác giả và của Mục Sư Phan Thanh Bình. Xin khẳng định ngắn gọn, tác giả bài viết này và MS Phan Thanh Bình không hề công kích hay lên án những ai gởi cha mẹ già vào viện dưỡng lão, bởi các hoàn cảnh đều không giống nhau. Ai nghĩ rằng mình có thể viết về lãnh vực này hay hơn, xin tự viết riêng cho chính mình và cho tôi được hân hạnh học hỏi thêm. Xin đa tạ!

Posted in Gia Đình & Xã Hội, Tác giả Huỳnh Quốc Bình | 2 Comments