Audio: Ăn Cây Nào Rào Cây Nấy

Bài giảng 28 phút

Đề tài: Ăn cây nào rào cây nấy

Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

Posted in Đời Sống An Bình | 1 Comment

Làm Tay Sai Cho Ma Quỷ!

Huỳnh Quốc Bình

Nhiều điều bất thường và nghịch lý đã và đang xảy ra hằng ngày tại Hoa Kỳ, người mù đã nghe, người điếc đã thấy, người câm không thể nói ra, và chỉ có kẻ hèn nhát mới phủ nhận.

Không cần phải là một người am tường thời cuộc, người ta vẫn có thể dễ dàng nhận thấy nhiều sự bất thường xảy ra hằng ngày trên thế giới. Không còn sự hãi hùng nào sánh bằng, khi người ta phải chứng kiến những kẻ nhận mình “có đạo” đã phạm vào những trọng tội như giết người trực tiếp và gián tiếp, tội dâm loạn, và nói dối. Bọn này không chỉ phạm tội mà còn đòi hỏi đặc quyền đặc lợi và muốn người khác tôn trọng sở thích của mình. Tại Hoa Kỳ, nạn phá thai bừa bãi của nhiều bà mẹ trẻ mà đa số là thành phần thích ăn không rồi ngồi, tạo bao nhiêu tốn kém từ tiền thuế của người dân nhưng đã được luật pháp dung dưỡng, hoặc cho phép ở nhiều nơi. Người cùng phái đòi được cưới gả ngay trong nhà thờ, thánh đường và đòi được làm hôn thú. Nhiều thứ bất thường về giới tính cũng trồi lên đòi hỏi nhiều thứ quyền mà người bình thường khó có thể chấp nhận. Ai làm theo lời Kinh Thánh, từ chối hoặc chống đối lại những gì nghịch lại Thánh Kinh sẽ trở thành kẻ phạm pháp, hoặc phải thường xuyên “vác chiếu ra tòa” ở một số tiểu bang. Nhiều giới lãnh đạo phía Thiên Chúa Giáo đã khéo léo vâng lời người ta, thay vì tuân thủ lời Chúa, cho dù họ cũng hay dạy người khác lời khuyến cáo của Kinh Thánh, “Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta” (Công-vụ các Sứ-đồ 5:29).

Hình: Giết thai nhi 40 tuần tuổi một cách tàn nhẫn là hợp pháp dù bất cứ lý do gì.

Giết hại trứng chim diều hâu là phạm luật: Bị phạt 250 ngàn Mỹ kim và ở tù ít nhất là 2 năm. Diệt sự sống của thai nhi dù bất cứ lý do gì là hợp pháp và sẽ được chính phủ Hoa Kỳ lo lắng từ tiền thuế của người dân lương thiện

Kinh Thánh sách Khải Huyền 21:8 đã khuyến cáo về những trọng tội không được vào Thiên Đàng, trong đó có tội hèn nhát, giết người, dâm loạn, và nói dối. Kinh Thánh cho biết rõ, “phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai.”

Đối với các quốc gia có nhiều người không nhận Thiên Chúa là Cha Thánh Trên Trời, tôi không tính đến, nhưng Hoa Kỳ một quốc gia từng được thành lập bởi những người có niềm tin vào Thiên Chúa, vậy mà hiện nay, Hoa Kỳ không còn giống như những năm tôi vừa đến định cư cách đây khoảng hơn 40 năm. Đó là tội ác và sự sa đọa về đạo đức ngày càng gia tăng.

Theo cuộc điều tra dân số về tôn giáo tại Hoa Kỳ (2020 Census of American Religion) https://en.wikipedia.org/wiki/Christianity_in_the_United_States do Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo (Public Religion Research Institute) thực hiện từ năm 2014 đến năm 2020, đã cho thấy 70% người Mỹ được xác định là Cơ Đốc Giáo.

Hoa Kỳ là một đất nước được thế giới chú ý nhất về tự do tôn giáo và tự do ngôn luận. Đất nước này từng có một chính phủ với chủ trương tôn trọng quyền làm người và bảo vệ sự sống. Người dân Hoa Kỳ có thành tích về lòng bác ái bằng những việc làm cụ thể như công tác từ thiện, và họ hoan nghênh người nước ngoài nhập cư hợp pháp để cùng chung sống, đúng với tinh thần và tên gọi Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Bằng chứng, suốt thế kỷ qua, Hoa Kỳ là chốn dung thân của hằng triệu người tị nạn chính trị, hoặc muốn tránh cảnh đói nghèo nơi quê hương của mình.

Trong chính trị Hoa Kỳ, có một thành phần người ta gọi là RINO (Republican In Name Only) để ám chỉ những đảng viên Đảng Cộng Hòa. Thành phần RINO chỉ có tên trong đảng, nhưng họ chuyên làm những điều bất lợi cho đảng mình hoặc làm theo đường lối của đảng đối lập. Vậy thì, người có niềm tin vào Thiên Chúa mà ủng hộ những việc làm nghịch lại Thánh Kinh, người ta gọi là CINO, tức là “Catholic in Name Only” hoặc là “Christian in Name Only”, cũng không phải là quá đáng.

Sở dĩ tôi nhắc đến CINO là vì kể từ ngày tôi có mặt tại Hoa Kỳ đến giờ, chưa bao giờ tôi thấy sự xuống dốc của Hoa Kỳ về mặt đạo đức, giống như trong vòng 20 năm qua. Nền giáo dục của Hoa Kỳ bị thao túng bởi những kẻ có những chủ trương làm những việc phản Thánh Kinh dù cũng có thể họ là người đi nhà thờ mỗi tuần. Nhà trường đã tận tình gieo vào đầu học sinh về những điều dối trá chỉ có ma quỷ mới ưa thích, chứ Thiên Chúa không thể hài lòng. Đối với đa số giới trẻ ngày nay, việc giết thai nhi trong bụng mẹ là bình thường, người cùng phái lấy nhau không sao, trai gái ở thử trước khi quyết định cưới gả là khôn ngoan, dân da đen cần được bênh vực vì họ bị dân da trắng kỳ thị hay hà hiếp, cha mẹ không được trọn quyền dạy dỗ con cái cho dù đó là bậc cha mẹ tử tế, chẳng có Thiên Chúa hay Ông Trời gì cả, hãy tin tưởng vào chính mình, và cầu nguyện là mê tín.

Tôi dám nói mà không sợ sai, ngay tại Hoa Kỳ con cái của ma quỷ đã lấn át con cái Chúa. Con cái Chúa không thể gian ác như con cái ma quỷ nhưng không có chỗ nào trong Kinh Thánh cấm con cái Chúa khôn ngoan hơn thói gian manh của con cái ma quỷ. Thực tế, bọn vô thần đã thắng phe hữu thần, bởi bốn chữ “tự do và dân chủ” bằng sự gian dối của chúng nó. Con cái ma quỷ dùng mọi thủ đoạn để biến những thứ có lợi cho chúng và phe đảng của chúng thành luật. Điều nghịch lý và đau đớn là chính những người nhận mình là con cái Chúa hoặc CINO đã bỏ phiếu ủng hộ cho những điều bất công gian dối đó. Nhiều người có đạo, có Chúa, có lòng hướng thượng đã để mặc cho bọn vô thần, hoặc những kẻ xem Thiên Chúa Giáo như thể là kẻ thù, cần phải tận diệt thao túng. Những ai có niềm tin vào Thiên Chúa không còn được phép cầu nguyện trong trường học và những nơi công cộng. Những kẻ theo tôn giáo cực đoan và quá khích, xem những người theo Thiên Chúa Giáo là kẻ thù cần phải bị tận diệt, lại có quyền bày tỏ đức tin của chúng bất cứ nơi nào. Hễ ai thắc mắc hay nói đụng tới là bị lên án kỳ thị, là “Racist” và được những thành phần tay sai ma quỷ và CINO tận tình bảo vệ và tiếp sức cho đám truyền thông bất lương khai thác tận tình.

Hình: Cầu nguyện trong trường học là “kỳ thị”

Men pray on the street before the start of the American Muslim Day Parade in 2010 in New York.

Hình: Cầu nguyện và quỳ mọp trên đường phố làm tắt nghẽn giao thông là hài hòa là đúng với tinh thần tự do tín ngưỡng, cần phải được tôn trọng

Trước hiện tượng dối trá và gian ác lên ngôi, nhiều người được xem là đạo đức, thiêng liêng, “đại diện Thiên Chúa”, có thẩm quyền căn cứ vào nền tảng của Thánh Kinh để phân biệt đúng hay sai, hầu có thể lên tiếng cáo trách tội lỗi, lại im lặng. Tệ hơn nữa, có không ít thành phần trong giáo quyền đã làm ngược lại lẽ phải. Họ công khai bênh vực bọn gian ác, dối trá, và giết người. Họ nhân danh giáo quyền hay giáo luật do con người đặt ra để thẳng tay loại trừ những ai dám cáo trách tội lỗi, dạy người khác làm theo lời Kinh Thánh, khiến cho thế lực ma quỷ ngày càng lộng hành hơn. Đề cập đến điều này, thiết nghĩ tôi không cần chứng minh, bởi người mù đã nghe, người điếc đã thấy, người câm không thể nói ra, và chỉ có kẻ hèn nhát mới phủ nhận.

Những hành vi dâm loạn cũng được luật pháp làm ngơ hay dung túng. Tội nói dối đã trở thành lối sống hay mốt thời thượng hằng ngày nhưng lại được xem như thể là “sự khôn ngoan” của những kẻ cầm quyền bất chính và bọn tay sai, hay truyền thông bất lương.

Thế giới đã chứng kiến, tại Hoa Kỳ trong năm 2020, nhiều chiến dịch bôi nhọ, vu khống, nhằm triệt hạ một Tổng Thống khi ông có những chương trình ích nước lợi dân, tôn trọng sự sống, và tin kính Thiên Chúa. Nhiều người đã tin tưởng những kẻ dối trá, nhưng họ lại nghi ngờ, chống đối và tẩy chay người tử tế. Trong số người đó, không ít những người nhận mình là “con dân Chúa” hay có sự sáng của Chúa mà chúng ta có thể gọi là CINO.

Chỉ cần tính trong vòng bốn năm qua, tại Hoa Kỳ, hằng ngày có hằng trăm tin tức dối trá được kẻ gian tung ra. Người bình dân khó biết phải tin ai. Những người được xem là có học hay trí thức, vì không có đủ thì giờ tìm tòi hoặc kiểm chứng tin tức một chiều, nên không biết đâu thật, đâu hư. Kẻ gian biết rõ điều này hơn ai hết, nên chúng đã khai thác tối đa điểm yếu này của người dân.

Có ít nhất 13 cơ quan truyền thông tại Hoa Kỳ, đặc biệt là CNN và Washington Post, đã gọi đích danh đại dịch Covid 19 là “China Virus!” , “Chinese coronavirus”, “Wuhan virus” nhưng khoảng chừng một tháng sau, Tổng Thống Trump bị lên án là kỳ thị, là phân biệt chủng tộc, là “racist” chỉ vì ông gọi dịch bệnh Covid19 là China Virus để phản bác việc Trung cộng đổ thừa lính Mỹ đã mang dịch bệnh đến nước Tàu. Xin bấm vào link này để xem bằng chứng: https://newhopemedianetwork.net/2020/04/18/china-virus/

Trong mùa bầu cử tổng thống Mỹ năm 2020 vừa qua, phía người Việt tị nạn Vc, có những thành phần vỗ ngực nhận mình là có học, trí thức, nhưng họ bài Mỹ, hoặc chống những ai làm lợi cho nước Mỹ hăng say hơn chống Việt cộng, hay chống kẻ thù của Mỹ. Họ thù ghét người Mỹ nhưng vẫn vác mặt đến dung thân ở Hoa Kỳ. Họ hết lòng ủng hộ ứng cử viên có những chương trình diệt sự sống và đảo lộn hôn nhân thánh khiết mà Đức Chúa Trời đã thiết lập. Họ tìm cách ca ngợi và tìm đủ cách làm lu mờ sự độc ác của ứng cử viên tổng thống và cái đảng “giết người hợp pháp” của ông ta, đó là một đám người từng có quyết định nhẫn tâm bỏ rơi Miền Nam Việt Nam vào tay cộng sản. Bằng chứng về sự phản bội đồng minh, và ruồng bỏ người Việt tị nạn cộng sản sau ngày 30-4-1975 của đám gian ác còn sờ sờ ra đó, mà họ vẫn không tin, hoặc muối mặt ăn tiền, để nói tốt cho những kẻ thiếu lòng nhân đó.

Những “trí thức” vừa nêu, kể cả những CINO, dám cho rằng họ rành tiếng Mỹ, tiếng Tây hơn người, và chỉ có họ mới có khả năng hiểu tin tức tiếng Anh từ CNN,  The New York Times, hoặc Washington Post. Còn những ai hiểu không giống họ là “dốt” tiếng Anh, chỉ có khả năng đọc báo tiếng Việt nên mới ủng hộ Tổng Thống Trump. Họ trịch thượng nói lời xúc phạm người khác chỉ vì người ta không ngu dại để tin tưởng những loại tin tức giả tạo (fake news) giống như họ. Đối với thành phần này và CINO, tôi xin tặng họ một câu nói đáng suy nghĩ của một danh nhân, “Sự ngu ngốc ở chỗ là đã biết sự thật, nhìn thấy sự thật nhưng vẫn tin những điều dối trá.” (Stupidity is knowing the truth, seeing the truth but still believing the lies.)

Do sự hèn nhát, sợ “mất ghế” và sợ “bể nồi cơm” nên không ít những người nhận mình “đại diện Thiên Chúa”, hoặc giữ vai trò lãnh đạo những nơi được xem là thiêng liêng, họ đã đứng về phía kẻ mạnh để thẳng tay loại trừ những ai dám công khai chống lại quyền lực của ma quỷ (satan). Những loại giáo quyền bất xứng hay bất lương đã không ngần ngại bịt miệng những người giống lên tiếng nói công chính để cáo trách tội ác, như đã nói. Khi chọn làm những điều sai quấy đó, có lẽ họ đã quên lời khuyến cáo này trong Thánh Kinh, “Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết”(Châm-ngôn 14:12).

Thánh Kinh khuyến cáo rằng, ma quỷ là hiện thân của sự dối trá và giết người. Những điều này được chép trong Phúc Âm Giăng 8:44. Vậy thì, những kẻ ngụp lặn trong tội lỗi, chủ trương hay ủng hộ bọn giết người, tiếp tay tuyên truyền những điều dối trá, chính là con cái của của sự tối tăm, là tay sai ma quỷ, là CINO chứ không thể là con dân Chúa.

Bất cứ ai nhân danh đại diện Thiên Chúa, nhân danh thánh thiện, mà lại đứng về phía kẻ ác để trục lợi, để bảo vệ chức vụ, để được yên thân, nhẫn tâm loại trừ những ai dám công khai, hoặc xổng xưng chống lại các loại giết người trực tiếp hay gián tiếp, điển hình là giết hại thai nhi, những người đó là gian ác trong vỏ bọc thiêng liêng, là con cái của của sự tối tăm, là tay sai ma quỷ, là CINO, chứ không thể là con dân Chúa, hay đại diện Thiên Chúa trên trần gian này. Bởi Kinh Thánh đã khuyến cáo, “Ai nói với kẻ ác rằng, ‘Ngươi vô tội,’ Kẻ ấy sẽ bị dân nguyền rủa và các dân khác ghê tởm” (Châm Ngôn 24:24).

Kẻ nào nói những điều không đúng sự thật để triệt hạ uy tín của người khác,  tưởng tượng ra những câu chuyện bỉ ổi để đổ lên đầu người khác hầu che đậy tâm địa thiếu ngay thẳng của mình, kẻ đó chính là tay sai ma quỷ. Kẻ nào thích nói hành người khác cho sướng miệng, thích ăn gian nói dối mà không thẹn với chính mình, trước mặt người khác tỏ vẻ thân thiện nhưng sau lưng người ta lại nói lời dối trá để hãm hại uy tín người ta, kẻ đó chính là tay sai ma quỷ. Kẻ nào thích tìm tòi, tán phát những điều sai sự thật mà chính mình biết rõ đó là dối trá, kẻ đó chính là tay sai ma quỷ. Bọn này chính là đám gian tà cần phải bị người tử tế cô lập, hoặc loại trừ chúng ra khỏi các sinh hoạt của những người lương thiện.

Để tìm ra đâu là sự lành và điều ác, con dân Chúa hãy nghe lời phán của Chúa Cứu Thế Jesus, “Người lành bởi lòng chứa điều thiện mà phát ra điều thiện, kẻ dữ bởi lòng chứa điều ác mà phát ra điều ác; vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng nói ra” (Lu-ca 6:45).

Xin cho tôi nói thêm điều này trước khi kết luận: Kẻ nào ngồi chung bàn, ăn chung mâm với kẻ gian, thoả hiệp với kẻ mạnh, hại người lương thiện để được yên thân, làm giàu bằng những hành động bất chánh, bóc lột công sức người khác, sang đoạt của người thành của mình, tạo sự nghiệp và quyền chức bằng những thủ đoạn đê tiện, chính là con cái của của sự tối tăm, là tay sai ma quỷ, chứ không thể là con dân Chúa.

Ngoài ra, nếu ai nhận mình là con dân Chúa và từng đọc Thánh Kinh, chắc chắn người đó khó quên lời khuyến cáo, “Hãy tiết độ và tỉnh thức: kẻ thù nghịch anh em là ma quỷ, như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được” (1 Phi-e-rơ 5:8).

Kết luận

Con dân Chúa không thể cấm hay ngăn cản những lời nói và hành động sai quấy của bọn gian ác, hoặc giáo quyền bất chính, nhưng mình có quyền xa lánh và không tin vào những lời nói hay hành động sai trật của họ bởi chúng ta cũng có quyển Thánh Kinh trong tay. Ngoài ra, trong trường hợp này, sử dụng vũ khí “tẩy chay” rất phù hợp với Thánh Kinh. Hãy tránh xa họ đi! Kinh Thánh khẳng định rằng, “Vì những kẻ đó chẳng phục vụ Chúa Cứu Thế, Chúa chúng ta đâu, song phục vụ cái bụng họ và dùng những lời đường mật nịnh bợ để quyến rũ lòng người thật thà” (Rô-ma 16:17-18).

Chúa Cứu Thế Jesus từng phán phán rằng, “Đừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng thà sợ Đấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục” (Ma-thi-ơ 10:28).

Ai nhận mình là con dân Chúa hãy cùng cầu nguyện cho nhau, nhắc nhở nhau, tha thứ nhau, sống yêu thương, lấy lòng chân thật mà đãi nhau, hết lòng yêu mến Chúa, và sống theo lời dạy của Chúa. Nếu chúng ta không làm được những điều căn bản đó, chúng ta chỉ là CINO, dễ dàng trúng kế ma quỷ, làm lợi cho ma quỷ, và làm tay sai cho ma quỷ mà cứ ngỡ rằng mình là con dân Chúa.

Huỳnh Quốc Bình

Chúa Nhật 22-8-2021

E-mail: huynhquocbinh@yahoo.com

Posted in Chúng Ta và Thời Cuộc, Những Chuyện Khó Nói, Tác giả Huỳnh Quốc Bình, Đời Sống Quanh Ta | Leave a comment

Audio: Cạp Đất Mà Ăn

Bài giảng 25 phút
Đề tài: Cạp đất mà ăn
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

Eat Clay

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Audio: Lòng Thương Xót

Bài giảng 25 phút
Đề tài: Lòng thương xót

long-thuong-xot.jpg
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Bà Mục Sư!

Huỳnh Quốc Bình

…Làm vợ mục sư là phải nết na, ý tứ, phải có đời sống thật giản dị, và thật vén khéo, chứ không thể tầm thường…

Tôi từng nghe dư luận dè bỉu một số phụ nữ làm vợ các vị mục sư hay giáo sĩ Tin Lành, về ba chữ “Bà Mục Sư”. Họ nói, “Bà ấy là vợ mục sư chứ đâu phải là mục sư mà tại sao để cho người khác gọi mình là bà mục sư?” Tôi nghĩ, họ có lý do để phê bình điều mà họ cho là “bất thường”.

Trước khi lạm bàn về ba chữ “Bà Mục Sư”, xin cho tôi được thưa rằng: không ai có thể cấm hay bắt người khác gọi mình là gì dù là cách gọi tôn trọng hay thiếu tôn trọng. Riêng chuyện người ta thắc mắc: tại sao một người phụ nữ, chỉ là vợ ông mục sư, mà được gọi là bà mục sư? Tôi hiểu, và tôi rất thông cảm cho sự thắc mắc đó.

Trong các giáo phái (denominations) của Tin Lành, có những giáo phái KHÔNG chấp nhận người nữ làm “mục sư”, có nghĩa là người nữ không được phép giảng dạy với chức vụ mục sư. Trái lại, một số giáo phái tấn phong chức vụ mục sư cho phái nữ. Cả hai phía đều lấy Kinh Thánh ra để dẫn giải và hậu thuẫn cho quyết định của mình. Bài viết này không dành để bàn về về vấn đề phái nữ có nên giữ chức mục sư hay không, nhưng để người viết nêu ra một số điểm tích cực và tiêu cực, liên quan đến những phụ nữ Việt Nam, từng được, hay bị người khác gọi là “Bà Mục Sư”.

Trong sinh hoạt xã hội, người phối ngẫu của những vị có các chức vụ như: luật sư, giáo sư, bác sĩ y khoa, nha sĩ, dược sĩ, thị trưởng thành phố, tỉnh trưởng, và tổng thống không thể nào được gọi theo danh xưng hay chức vụ của chồng, hay của vợ bởi các bà, hay các ông không phải là người được phép làm các công việc đó. Nếu có, các bà hay các ông, chỉ là người giúp chồng mình, hay vợ mình về mặt tinh thần, để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của họ. Riêng vợ của các mục sư và giáo sĩ hoàn  toàn khác.

Như đã nói, không ai gọi vợ hay chồng của một bác sĩ y khoa là “bà bác sĩ” hay “ông bác sĩ”, bởi thực tế những người đó không có thẩm quyền chữa bệnh cho người khác. Cùng một ý niệm đó, không ai gọi vợ thị trưởng thành phố, vợ của tỉnh trưởng, hay vợ của tổng thống là “bà thị trưởng”, “bà tỉnh trưởng”, hay “bà tổng thống”. Nếu có ai gọi như thế, đó chỉ là lối gọi theo kiểu lấy lòng, hay nịnh bợ những người có chức quyền trong xã hội. Điều này cũng hết sức lố bịch nếu có ai hài lòng khi người khác gọi mình như thế.

Trong các tôn giáo, chỉ có Đạo Tin Lành mới có biệt danh “Bà Mục Sư”. Lý do, chỉ có mục sư hay giáo sĩ Tin Lành mới được phép lấy vợ, hoặc chọn ở độc thân, theo lời Kinh Thánh.

Như đã nói, vì mục sư hay giáo sĩ Tin Lành được lập gia đình một cách công khai và tự nhiên, cho nên mới có danh xưng “Bà Mục Sư”, ra đời. Ngoài ra, người viết chưa thấy một mục sư nào được mời làm mục sư quản nhiệm, hay lãnh đạo những tập hợp được gọi là Hội Thánh Chúa, mà người đó chưa có vợ. Cũng trong trong Đạo Tin Lành, khi cấp lãnh đạo tấn phong (ordain) hay chỉ định (appoint) chức vụ mục sư, hoặc giáo sĩ cho người nào đó, người phối ngẫu của người đó cũng phải cùng quỳ gối, để mọi người đặt tay cầu nguyện khi họ nhận lãnh trọng trách thiêng liêng đó. Nói một cách khác, chỉ có vợ của mục sư, hay vợ của giáo sĩ, mới có thể cùng chồng làm hầu hết những công việc của mục sư hay công việc của giáo sĩ.

Tôi được biết một mục sư Việt Nam tại Hoa Kỳ, sau khi ra trường, ông cùng vợ con tình nguyện đến một vùng rất ít người Việt, và cũng không có Hội Thánh (Nhà Thờ Tin Lành) Việt Nam, để rao giảng về sự cứu rỗi của Chúa. Tôi thật sự thán phục sự dấn thân của ông mục sư, nhưng tôi thán phục “Khúc Xương Sườn” của ông gấp bội. Ông bà khởi đầu gầy dựng Hội Thánh bằng một nhóm nhỏ, gồm mấy người con của ông bà còn ở bậc tiểu học và vài gia đình tín hữu không có nơi thờ phượng Chúa. Nhóm tín hữu ấy cùng với gia đình ông mục sư không quá mười người. Ông mục sư và vợ ông bắt đầu mục vụ bằng cách tiếp xúc với những người Việt Nam trong vùng để làm chứng đạo, tức là nói về sự cứu rỗi của Thiên Chúa dành cho những ai đầu phục Ngài. Có nghĩa là, những ai ý thức rằng, mình là người yếu đuối, bất toàn. Có thể theo tiêu chuẩn con người, mình là người tốt, nhưng theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa, mình là kẻ có tội. Nếu người đó tin rằng Chúa Cứu Thế Jesus là Con Trời, Chúa Ngôi Hai trong Chúa Ba Ngôi, giáng trần, chịu chết trên thập tự giá để đền tội cho nhân loại, trong đó có chính họ; lập tức, tội người đó được tha, linh hồn người đó được sự cứu, mà không cần phải có hoa quả hay lễ vật gì để dâng lên Thiên Chúa.

Sau thời gian bốn năm năm, kể từ ngày ông mục sư nêu trên bắt đầu thành lập Hội Thánh Chúa, số thành viên tăng trưởng đáng khích lệ, tức là có thêm nhiều người tiếp nhận Chúa. Hằng tuần họ đến thờ lạy Chúa và sinh hoạt hài hòa, vui vẻ, yêu thương những người trong Hội Thánh như một gia đình. Rất tiếc, thời gian sau đó, có người đến nhưng cũng có người đi bởi vì nơi ông mục sư chọn khởi đầu chức vụ tại một thành phố không mấy phồn thịnh về vật chất. Điều này có ảnh hưởng đến số thành viên của Hội Thánh bởi nhiều người di chuyển qua những tiểu bang ấm hơn, khí hậu ôn hòa hơn, đông người Việt hơn, và công ăn việc làm dễ tìm hơn. Cuối cùng, số thành viên trong Hội Thánh bị giảm sút trầm trọng. Ông mục sư nhìn vợ mình cực nhọc trong công việc Hội Thánh Chúa và công việc làm “kiếm cơm” để có đủ tài chánh cho chồng an tâm hầu việc Chúa mà ái ngại. Ông mục sư thấy Hội Thánh không phát triển mà trái lại số thành viên ngày càng giảm sút nên ông có ý định “bỏ chạy”. Ông bàn với bà là nên tìm thành phố khác có đông người Việt hơn. Thực tế, có một Hội Thánh ở vùng nắng ấm đang cần mục sư, họ có ý mời ông làm mục sư quản nhiệm. Ông thố lộ với bà về ý định “di tản” qua vùng đất “mầu mỡ” hơn. Ông đinh ninh trong lòng là khi ông bày tỏ ý định đó, bà sẽ đồng tình với ông, nhưng bà hỏi ông rằng:

 – Nếu mình bỏ đi, ai sẽ là người chăm sóc tinh thần, ai giảng dạy Kinh Thánh cho những gia đình tín hữu còn ở lại?

Ông mục sư hỏi ngược lại bà:

– Mọi người di chuyển qua tiểu bang khác gần hết rồi, anh ở lại giảng cho ai nghe?

Bà trả lời không cần suy nghĩ:

– Em và các con sẽ nghe, các tín hữu còn ở lại sẽ nghe, và nhất là Chúa sẽ nghe anh giảng.

Nghe vợ nói quyết liệt như thế nên ông mục sư đã “tỉnh thức”. Ông tiếp tục chọn “con đường hẹp” và bỏ ý định tìm “những con đường rộng thênh thang” mà Kinh Thanh đã khuyến cáo, “Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.” (Ma-thi-ơ 7:13-14)

Trong trường hợp nêu trên, người nữ mà tôi đề cập, có xứng đáng nhận danh xưng “Bà Mục Sư” hay không? Chắc chắn là vô cùng xứng đáng. Người viết dám bảo đảm rằng, ngoài đời, ngay từ đầu, nếu là “bà bác sĩ”, “bà nha sĩ”, “bà kỹ sư”, “bà luật sư”, “bà dược sĩ”, “bà thị trưởng”, hay “bà tỉnh trưởng” sẽ bảo chồng mình, hay đòi cho bằng được chồng mình phải tìm nơi có tương lai tốt hơn cho gia đình, nơi đạt địa vị cao hơn, lương cao hơn, khí hậu ấm hơn, và nhất là dễ cho những phụ nữ chưng diện hơn chứ dại gì chọn cái nơi mà “đường hoạn lộ” hay quyền lợi vật chất của chồng mình nhỏ hẹp như thế?

Khi viết đến đây, tôi xin cúi đầu tạ ơn Chúa bởi Ngài cho tôi học được hay biết được một tấm gương hầu việc Chúa một cách trung tín của một trong nhiều phụ nữ, mà mọi người gọi là “Bà Mục Sư”. Tôi cũng tin rằng bà mục sư nêu trên đã thấm nhuần lời khuyến cáo này của Thánh Kinh, “Hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi” (2 Ti-mô-thê 4:2).

Một trường hợp khác. Vợ của một giáo sĩ Việt Nam cùng chồng khởi đầu chức vụ với một Hội Thánh chỉ có ba người, gồm ông, bà, và cô con gái mới bước vào bậc trung học. Bà cùng chồng làm việc toàn thời gian để sinh sống và làm các mục vụ. Ông bà không nhận sự trợ cấp từ giáo hội trung ương hay địa phương. Nhược điểm của bà là không dạn dĩ nói chuyện hay cầu nguyện trước công chúng, không giảng dạy Kinh Thánh cho tín hữu, giống như một số bà vợ mục sư hay giáo sĩ khác. Ưu điểm của bà là làm việc siêng năng, kín miệng, hiền hòa, và có đời sống giản dị. Bà sẵn sàng hỗ trợ chồng trong các công việc theo tinh thần của người vợ biết “tuân phục chồng” mà Kinh Thánh đã dạy trong sách Ê-phê-sô 5:22-33.

Bà chăm lo việc nhà và việc của Hội Thánh để chồng bà có thể bôn ba gầy dựng các điểm nhóm, thờ phượng Chúa. Bà chấp nhận cuộc sống “cô đơn” khi chồng xa nhà làm mục vụ và giảng về sự cứu rỗi của Chúa cho đồng hương Việt Nam tại Hoa Kỳ, kể cả ngoại quốc. Bà luôn hỗ trợ chồng làm nhiều công việc xã hội, không lương, và cũng “không tên”. Những buổi tổ chức họp mặt trong trong Hội Thánh, không ai thấy bà, và những người phụ nữ mà bà gọi là “cánh tay mặt” hay “những cánh tay đắc lực” của bà lên bàn hay lên mâm, ăn tiệc với mọi người. Nếu để ý, người ta chỉ thấy bà ở trong nhà bếp hoặc phía sau hội trường để cùng một số người khác cật lực giúp chồng bà hoàn thành tốt các mục vụ. Bà thích làm các công việc của “Bà Mục Sư” nhưng không mong chờ ai trân trọng gọi bà là “Bà Mục Sư”.

Dĩ nhiên, hai trường hợp trên chỉ là hình ảnh tiêu biểu cho những bà vợ của mục sư hay giáo sĩ Việt Nam mà tôi từng biết qua. Người viết có kinh nghiệm hay có nhiều kỷ niệm với một số “Bà Mục Sư” mà mình từng xem như mẹ hay bà chị cả trong gia đình. Những hình ảnh của những bà mục sư mà tôi từng là tín hữu nơi chồng quý bà làm mục sư quản nhiệm, gồm những người đàn mà có đời sống mẫu mực, giản dị, và “cực kỳ” kín miệng. Làm sao tôi viết? Người ta kể cho quý bà nghe “những tin đồn” vô cùng hấp dẫn, dễ tin, nhưng KHÔNG có thật để người ta thử xem nhân cách và sự kín miệng của các bà thế nào? Kết quả, những tin đồn đó đã đi vào hư không, hay phải “chết từ trong trứng nước”.

Có ít nhất một bà mục sư Việt Nam, hiện cư tại vùng Bắc California, vẫn còn sống nhưng nay đã đãng trí. Tôi xem bà như mẹ, và nhiều năm trước đây, tôi thường gọi hỏi thăm và thỉnh thoảng xin bà cố vấn cho những việc tế nhị, quan trọng, bởi tôi tin rằng bà có nhiều kinh nghiệm trong đời sống và trong chức vụ của chồng. Tôi cũng tin rằng những gì tôi tiết lộ với bà, bà thường dựa vào những lời dạy căn bản của Kinh Thánh để cố vấn và sau đó không ai biết tôi đã nói gì với bà. Với tư cách hay nhân cách của những người phụ nữ như thế, chẳng lẽ người ta gọi là Bà Mục Sư quá đáng lắm hay sao?

Hình ảnh của các bà mục sư đúng nghĩa sẽ hoàn toàn ngược lại với câu nói đùa trong nhân gian “vợ biết là chợ biết”. Vai trò của người vợ mục sư phải là người kín miệng và tuân phục chồng. Bà mục sư không thể là người thích ngồi lê đôi mách. Bà mục sư không thể là người thích lấn lướt chồng. Bà mục sư phải là “bà mẹ ruột” đối với tín hữu mà chồng mình có trách nhiệm chăm sóc về phần thuộc linh, chứ không phải loại mẹ mìn trong xã hội. Bà mục sư phải là người hiền hòa, mềm mại, nhịn nhục, và nhân từ. Bà mục sư không phải là những người thuộc loại thượng đội hạ đạp, hay trọng phú khinh bần, hoặc thích “ăn miếng trả miếng” với mọi người. Bà mục sư không thể là người ham mê vật chất. Bà mục sư không thể là kẻ dối trá được che đậy bằng các mỹ từ. Bà mục sư không thể là người chỉ thích được gọi là “bà mục sư” mà không chú trọng đến nhân cách của chính mình và giữ uy tín cho chồng. Bà mục sư không thể nào là người lãnh đạo ông mục sư và những người trong Hội Thánh. Bà mục sư phải là người bền lòng cầu nguyện cho chồng, cho mọi người, và đặc biệt là phải có lòng quan tâm đến hạnh phúc của người khác, nhất là những người trong Hội Thánh trong tinh thần yêu thương thật sự. Bà mục sư phải có cùng một tâm tình với ông mục sư, chồng mình, giống như lời dạy của Kinh Thánh, “Lòng yêu thương phải cho thành thật. Hãy gớm sự dữ mà mến sự lành. Hãy lấy lòng yêu thương mềm mại mà yêu nhau như anh em; hãy lấy lẽ kính nhường nhau. Hãy siêng năng mà chớ làm biếng; phải có lòng sốt sắng; phải hầu việc Chúa. Hãy vui mừng trong sự trông cậy, nhịn nhục trong sự hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện. Hãy cung cấp sự cần dùng cho các thánh đồ; hãy ân cần tiếp khách” (Rô-ma 12:9-13).

Tôi có thể liên tưởng hình ảnh các bà vợ của các vị mục sư, hay giáo sĩ giống như các bà vợ lính cùng chồng đóng đồn, không có số quân, không được lãnh lương, nhưng thường phải cùng chồng hứng chịu các thứ tên đạn vô tình vụt đến một cách thật “nhẫn tâm”. Tôi rất trân trọng vai trò của các bà vợ của các vị mục sư, hay vợ giáo sĩ, cùng chồng thi hành chức vụ, hay làm những công việc “không giống ai” mà những người đàn bà ở ngoài đời không bao giờ thích.

Tôi được biết ở Việt Nam vào thập niên 60, phụ nữ nào khi chọn làm vợ mục sư, tức là người đó tự đặt mình vào vị trí giống y như một nữ tu, chứ không còn là người nữ bình thường trong xã hội. Làm vợ mục sư là phải nết na, ý tứ, phải có đời sống thật giản dị, và thật vén khéo, chứ không thể tầm thường. Bà mục sư trẻ tuổi nào “lỡ dại” muốn làm đẹp bằng cách kẽ mắt, đánh chút má hồng, hoặc thoa chút môi son cũng đã bị lên án. Không phải người ngoài đời lên án, mà người trong giáo hội lên án. Các bà không được đi làm việc ngoài đời để kiếm thêm tiền, mà phải sát cánh với chồng trong chức vụ, phải chấp nhận đồng lương rất giới hạn dành cho chức vụ mục sư.

Ngày nay “tiêu chuẩn” dành cho mục sư hay vợ của mục sư cũng có phần “dễ thở” hơn ngày xưa, nhưng cũng không thể vượt quá giới hạn dành cho vị trí mục sư, giáo sĩ và người phối ngẫu của mình, mà những điều đó được chép bàn bạc trong Kinh Thánh. Nếu có ai thấy hay có bằng chứng ông, hay bà mục sư, ông, hay bà giáo sĩ nào tham lam vật chất, nhân cách quá tệ, đó không phải là mục sư hay giáo sĩ đích thực mà tôi muốn đề cập trong bài viết này.

Viết đến đây, thiết nghĩ tôi cần nói về “bà mục sư” của tôi, mới có sự “công bằng”. Trong vai trò làm vợ, Bà Nhà Tôi luôn thể hiện đúng câu nói của người xưa, “Phu Xướng Phụ Tùy” cho dù tôi chỉ là một thanh niên trưởng thành trong một gia đình bình dân, không thể có đầu óc phong kiến. Bà là người vợ rất đáng yêu của tôi và người mẹ đáng kính của con tôi. Bà rất thích mọi người gọi bà bằng tên, hoặc “Chị B”, “Cô B” hoặc “Bà B”. Những đức tín còn lại liên quan đến bà, tôi xin phép nhường cho những ai từng quen biết với tôi nhận xét về bà sẽ chính xác hơn, và cũng để tôi cũng không bị mang tiếng là “văn mình, vợ mình”

Kết luận

Vợ chồng tôi chưa bao giờ nhận sự trợ cấp hay tiền lương khi làm mục vụ trong vai trò của một giáo sĩ. Chúng tôi rất hài lòng với những gì Chúa ban cho trong đời sống, bằng nghề chuyên môn của mình.

Tôi có thể quả quyết điều này mà không sợ sai. Ở những nơi gọi là “Hội Thánh Tin Lành Việt Nam”:

Nếu không có những bà mục sư đáng kính, làm việc cực nhọc, cầu nguyện cho chức vụ của chồng, có đời sống gương mẫu, an ủi giúp đỡ những tín hữu ngã lòng, quan tâm đến những người già yếu bệnh tật, quý ông mục sư sẽ phải “chiến đấu đơn độc”.

Nếu không có quý bà mục sư yêu thương những trẻ em côi cút, nâng đỡ những người đàn bà goá bụa trong Hội Thánh, và nhất là không nản lòng khi phải tạo tài chánh cho gia đình sinh sống, hầu cho chồng mình an tâm chu toàn nhiệm vụ của một mục sư, đâu có ai dám gọi quý bà là bà mục sư.

Nếu không có quý bà mục sư thật lòng kính Chúa yêu người, sát cánh với chồng mình, ngoài một số mục sư thuộc vài giáo phái có khả năng tài chánh, được sự hỗ trợ của trung ương, hầu hết các mục sư Việt Nam còn lại từ trong nước ra đến hải ngoại, cho dù có “ba đầu, sáu tay” cũng khó hoàn thành tốt nhiệm vụ Chúa giao, với số tiền trợ cấp “chết đói” từ những thành viên trong Hội Thánh.

Tại sao những tín hữu biết quan tâm đến đời sống tiện nghi cho mình, nhưng khi quyết định tiền trợ cấp hay cung lương cho mục sư, lại luôn giữ đúng tinh thần “tiền ra như máu chảy”? Có phải mình muốn mục sư của mình phải giữ cho được sự “thiêng liêng” bằng đời sống thiếu thốn, để cho quý bà mục sư phải “gánh cả giang san nhà chồng”?

Huỳnh Quốc Bình

Email: huynhquocbinh@yahoo.com

Posted in Những Chuyện Khó Nói, Tác giả Huỳnh Quốc Bình | Leave a comment

Audio: Con người và thiên tai

Bài giảng 25 phút
Đề tài: Con người và thiên tai
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

 

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Audio: Ngày Tận Thế

Bài giảng 26 phút
Đề tài: Ngày Tận Thế
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

Tan the- The End of Earth

Ngày tận thế hay ngày Chúa trở lại chắc chắn phải xảy ra. Tôi không nói ra những điều nầy để doạ mọi người, nhưng tôi muốn trình bày cho quý vị những gì Kinh Thánh đã khuyến cáo.
Chúng ta cần phải chuẩn bị cho ngày nầy. Cách chuẩn bị an toàn nhất là tiếp nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa và sống theo những gì Chúa đã khuyến cáo chúng ta.
Làm được điều đó thì ngày tận thế, hay ngày Chúa trở lại phải là ngày vui, ngày vinh quang chứ không phải ngày buồn lo, sợ hải.
Tôi mong rằng ngày nào tôi còn sống, tôi muốn nhìn thấy có nhiều người tiếp nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa, còn nếu tôi hay quý vị có qua đời trước ngày đó thì chúng ta cũng sẽ được sống lại.
Lời hứa của Chúa Jesus là nếu ai tin vào chương trình cứu rỗi nhân loại của Chúa thì sẽ được cứu, được làm con Chúa, được sự bình an thật. Tin Chúa thì tội sẽ được tha, linh hồn sẽ được cứu, dù đã chết rồi. “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi.” (John 11:25)

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Audio: Lừa Dối Chính Mình

Bài giảng luận: 26 phút
Đề tài: Lừa dối chính mình
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

 

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Hãy Cùng Làm “Người Lính Truyền Tin!”

Huỳnh Quốc Bình

Tôi từng nghe khá nhiều người Việt Nam than phiền rằng, “Tại hải ngoại, những người chống cộng, nói và viết bài tiếng Việt chỉ để mình đọc, hay viết cho nhau đọc, nói cho nhau nghe, chứ mấy bạn ‘Mỹ con’, và người Mỹ bản xứ chẳng biết, chẳng hiểu chúng ta muốn gì, hay làm gì? Rồi tôi cũng từng nghe lời than thở rằng, “Ngày nay, số người cổ võ việc bảo tồn và phát huy văn hóa Việt tại hải ngoại, và số người hết lời ca ngợi tác phẩm của người khác, hoặc khen văn chương của người khác, rất nhiều, nhưng những người bỏ tiền ra mua sách, hay góp phần quảng bá những gì mình khen ngợi, hoặc mình cho rằng nhiều người khác nên biết, nên hay, vẫn còn là thiểu số. Nói tóm lại, “cái khâu” góp phần quảng bá những gì mình cho là hay, là giá trị, là cần thiết, và người khác nên biết, vẫn còn là vấn đề chúng ta cần phải bận tâm.

Tôi tin rằng trong vòng hơn bốn Thập Niên qua tại hải ngoại, đặc biệt tại Hoa Kỳ, nhiều loại sách vở, băng nhạc, băng video phim ảnh, tài liệu chính trị, hoặc “phi chính trị”, có lợi cho sự tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, được xuất bản tại Việt Nam, nằm đầy trong các thư viện, nhiều hơn số sách vở hay phim ảnh do phía người Việt Quốc Gia tị nạn Việt cộng xuất bản. Tôi nghĩ, số sách vở và phim ảnh chống cộng của “phe ta” nằm tại tư gia của mọi người, nhiều hơn là nằm trong các thư viện.

Tuần qua, tôi hân hạnh được đọc một điện thư ngắn trong nhóm thân hữu mà tôi có địa chỉ email trong đó. Bức thư nói về một quyển sách Anh ngữ do Nhóm Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, phát hành. Điện thư ngắn mà Cựu Trung Tá Trần Văn Thư, nguyên là Tổng Hội Trưởng, Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam của cuối Thập Niên 90, gởi cho quý niên đệ của ông trong Trường Võ Bị, và một số thân hữu khác, có đoạn như sau, “Tôi đã đọc ‘hơi kỹ’ cuốn sách Biên Khảo Lịch Sử Bằng Anh Ngữ – The Vietnamese National Military Academy and The Vietnam War (1948-1975) và tôi không  thể không ngưỡng mộ, tác phậ̉m lịch sử rất giá trị này. Hy vọng tác phậ̉m tuyệt vời này cần được pḥổ biến thật sâu rộng, so với tầm mức và rất giá trị của nó…” (hết trích)

Nhắc đến ông Trần Văn Thư, tôi không làm công việc giới thiệu hay đánh bóng một cá nhân trong bài viết này, bởi tôi không có nhu cầu đó, và tôi tin rằng Ông Thư cũng không cần tôi làm điều đó, nhưng để tôi chứng minh với những vị chống cộng, hay quý vị xa gần, về một trong những người lính Việt Nam Cộng Hòa rất quan tâm đến chính trị Việt Nam và Hoa Kỳ, đã có sự nhận xét về quyển sách Anh ngữ mà tôi vừa đề cập.

Ông Trần Văn Thư, người từng tốt nghiệp Cao Học về Chính Trị Học (Political Science) tại Hoa Kỳ, cộng với những “kinh nghiệm xương máu” thời ông còn là một người lính Việt Nam Cộng Hòa, cũng như tại hải ngoại, tôi từng chứng kiến ít nhất hai lần Ông Thư đã cùng một số nhân sĩ Việt Nam và Ban Chấp Hành Cộng Đồng Việt Nam tại Oregon của cuối Thập Niên 90, đối chất và bẻ gãy âm mưu của phái đoàn Việt cộng đến Oregon để tuyên truyền cho chế độ Việt cộng tại Việt Nam và kêu gọi chất xám về giúp nước, trước các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ, để tôi an tâm giới thiệu quyển sách nêu trên đến mọi người.

Ông Trần Văn Thư giới thiệu tác phẩm Biên Khảo Lịch Sử Bằng Anh Ngữ – The Vietnamese National Military Academy and The Vietnam War (1948-1975) và kèm theo lời giới thiệu của nhóm chủ trương, như sau.

GIỚI THIỆU BIÊN KHẢO LỊCH SỬ BẰNG ANH NGỮ – THE VIETNAMESE NATIONAL MILITARY ACADEMY AND THE VIỆT NAM WAR (1948 – 1975)

– Biên khảo lịch sử này nhắm đến các đối tượng: Các thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại, các Quân Nhân Hoa Kỳ gốc Việt, các nhà nghiên cứu lịch sử Chiến Tranh Việt nam.

– Biên khảo lịch sử này đề cập đến sự hình thành và phát triển của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (1948 – 1975), với những đóng góp và hy sinh của những sĩ quan xuất thân từ ngôi trường này trong Chiến Tranh Việt Nam.

– Phát xuất từ truyền thống ái quốc của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), lịch sử của Dân Tộc Việt Nam từ thời lập quốc cho đến hiện nay được trình bày khái quát nhưng đầy đủ, giúp cho độc giả hiểu biết về cội nguồn, việc mở mang bờ cỏi, và những thăng trầm của Đất Nước Việt Nam qua mọi thời kỳ.

– Chiến Tranh Việt nam được phân tích dưới nhãn quan của những Người Lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã từng tham gia trực tiếp vào cuộc chiến. Biên khảo này cung cấp một cái nhìn khác về Chiến Tranh Việt nam.

– Những sự kiện chính trị và quân sự liên quan tới Chiến Tranh Việt Nam kể từ năm 1945 đến năm 1975, được liệt kê theo thứ tự thời gian.

– Đặc biệt: Bài phản biện những xuyên tạc của truyền thông Hoa Kỳ về Chiến Tranh Việt Nam. Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết, biểu đồ, bản đồ để giúp cho độc giả có một cái nhìn tổng quát về những khía cạnh của Chiến Tranh Việt Nam, nhiều hình ảnh liên quan đến lịch sử Việt Nam, Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa và thành phố Đà Lạt trước năm 1975.

– Sách dày 370 trang, khổ giấy 7”X10” là một tập tài liệu đã được biên soạn, khảo cứu, truy lục và cô đọng khá công phu, trình bày trang nhã. Sách được Amazon phát hành trên toàn thế giới vào ngày 30 tháng 12 năm 2020 với giá $15.99. Xin vào link của Amazon sau đây để mua: https://amzn.to/3pE4yMF

– Sách do một nhóm Cựu Sinh Viên Sĩ Quan TVBQGVN chủ trương và thực hiện. (Hết trích)

Ngoài ra, tôi cũng hân hạnh được đọc một bài viết khá chi tiết về quyển sách nêu trên, của tác giả CSVSQ Nguyễn Sanh, Khóa 28 TVBQGVN và tôi đã xin hân hạnh đăng tải trên Trang Nhà riêng của tôi tại link sau đây:

Tôi viết bài này chỉ để xin nói rằng, chúng ta hãy cùng làm “Người lính truyền tin” bằng cách mua tác phẩm này, trước cho chính mình và làm quà tặng cho con em của mình, bằng hữu, đặc biệt là cho quý bạn “Mỹ con” và “Mỹ thứ thiệt”, hoặc những ai đọc được Anh ngữ. Phần chúng ta, sau khi đọc xong, hãy gởi tặng cho các thư viện tại địa phương, hoặc đặt mua và gởi trực tiếp đến thư viện tại nơi mình cư trú. Sách có thể đặt mua trên Amazon, tại link sau đây: https://amzn.to/3pE4yMF, giá khoảng 16 Mỹ kim kể cá cước phí, rẻ hơn tiền ăn sáng, tốn kém chỉ ngang ngửa với một tô Phở Xe Lửa.

Đâu phải lúc nào chúng ta hay ai cũng có phương tiện hay điều kiện, hoặc đủ khả năng để giải thích cặn kẽ về chiến tranh Việt Nam cho các bạn trẻ Việt Nam và người ngoại quốc hiểu. Tại Sao chúng ta không “Làm người lính truyền tin”, bằng cách góp phần quảng bá quyển sách giá trị nêu trên, và những sách giá trị khác, có lợi cho công cuộc đấu tranh, ngăn chận hay chấm dứt chủ nghĩa cộng sản, đến mọi người? Thí dụ, một tác phẩm khác của tác giả ngoại quốc, mà tôi vừa được Chị Nguyễn Tâm An, người nổi tiếng thực hiện các chương trình Live Stream trên Facebook và YouTube, gởi tặng; đó là quyển Drawn Swords in a Distant Land: South Vietnam’s Shattered Dreams, có người đã thoát dịch, “Đấu Kiếm Nơi Vùng Đất Xa: Những Ước Mơ Tan Vỡ Của Miền Nam Việt Nam” của tác giả George J. Veith, cựu Đại Úy Thiết Giáp Hoa Kỳ và việc làm này của ông như thể một nỗ lực “Trả lại Sự Thật cho Miền Nam”. Sách này có bán trên Amazon giá 32 Mỹ kim kể cả cước phí. Sách đã được Bình Luận Gia Phạm Gia Đại, người có biệt danh Người Tù Cuối Cùng, tác giả Hồi Ký Những Người Tù Cuối Cùng, mà tôi có dịp hân hạnh đọc qua, giới thiệu. Hôm tháng 4 năm 2021, BLG Phạm Gia Đại đã phỏng vấn tác giả George J. Veith như thể góp phần quảng bá tác phẩm giá trị của ông bạn Mỹ chúng ta đến mọi người.

Tôi đã làm “bổn phận công dân”, tôi đã đặt mua sách The Vietnamese National Military Academy and The Vietnam War tặng cho con và rể của tôi và các bạn ấy đang đọc. Tôi sẽ mua sẵn thêm vài cuốn vừa nêu và của tác giả George J. Veith để làm quà tặng khi cần thiết, cho những ai đọc được tiếng Anh, để họ hiểu rõ chính nghĩa của những người Quốc Gia chống cộng, đặc biệt là những Chiến Sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta, từng chiến đấu hào hùng để bảo vệ đất nước, cho đến ngày 30-4-75.

Sau cùng, xin phép cho tôi được “khoe”. Trong nhà tôi lúc nào cũng có ít nhất từ mười đến hai mươi quyển sách về niềm tin Thiên Chúa, đặc biệt về lãnh vực hạnh phúc gia đình của tác giả Mục Sư Phan Thanh Bình và những sách về chính trị, xã hội của vài tác giả khác mà tôi thích. Để làm gì? Xin thưa, việc mua sách báo hay phim ảnh giá trị, để dành tặng thân hữu, là thói quen của tôi trong mấy chục năm qua. Bất cứ tác giả nào tặng sách báo cho tôi, tôi đều ủng hộ tiền in ấn như thể một lời tri ân dành cho những người đã bỏ thì giờ, công sức, viết ra những điều bổ ích cho tôi đọc và học hỏi.

Liên quan đến sách The Vietnamese National Military Academy and The Vietnam War, để bảo vệ chính nghĩa Quốc Gia, để vinh danh Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, tôi xin quý vị cùng tôi nhớ câu, “Đừng yêu lính bằng lời”.

Huỳnh Quốc Bình

Email: huynhquocbinh@yahoo.com

Posted in Tác giả Huỳnh Quốc Bình | Leave a comment

GIỚI THỊÊU BIÊN KHẢO LỊCH SỬ BẰNG ANH NGỮ – THE VIETNAMESE NATIONAL MILITARY ACADEMY AND THE VIETNAM WAR (1948 – 1975)

(Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam và Chiến Tranh Việt Nam)

CSVSQ Nguyễn Sanh, Khóa 28 TVBQGVN

Tháng 12 năm 2017, sách “Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Theo Dòng Lịch sử” được xuất bản. Đây là tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), do chính các Cựu Sinh Viên Sĩ Quan (CSVSQ) của TVBQGVN thực hiện.

(link: “giới thiệu sách TVBQGVN – TDLS”). https://www.facebook.com/anthonyha2017/posts/2815905172002245/

Sau quyển sách trên, rất nhiều CSVSQ của TVBQGVN bày tỏ ước mong được nhìn thấy một tác phẩm viết về TVBQGVN và về Chiến Tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ, để giúp cho các thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại, hiểu biết về cuộc chiến tranh Quốc-Cộng trước năm 1975. Lý do chiến đấu và hy sinh của người lính Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tranh tự vệ, chống lại sự xâm lăng tàn bạo của Cộng Sản để bảo vệ nền Dân Chủ còn non trẻ của dân tộc Việt Nam, đồng thời bảo vệ lý tưởng Tự Do cho người dân miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó là lịch sử của TVBQGVN và sứ mệnh của người sĩ quan xuất thân từ ngôi trường này trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam.

Để đáp lại niềm mong ước đó, tháng 8 năm 2018, một số CSVSQ của năm khóa (K10, K14, K24, K25 và K28) đã thành lập một ban biên soạn, với mục đích là thực hiện một biên khảo lịch sử về TVBQGVN và chiến tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ, nhằm giúp hiểu rõ hơn về đất nước Việt Nam và về TVBQGVN. Đồng thời tác phẩm này sẽ cung cấp thêm một cái nhìn khác về chiến tranh Việt Nam của những người lính Việt Nam Cộng Hòa, những người đã từng tham dự trực tiếp vào cuộc chiến tranh này, gởi đến cho các đối tượng sau đây:

– Các thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại không rành Việt Ngữ;

– Các quân nhân Hoa Kỳ gốc Việt,

– Các nhà nghiên cứu lịch sử, đặc biệt là về chiến tranh Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, biên khảo lịch sử THE VIETNAMESE NATIONAL MILITARY ACADEMY AND THE VIETNAM WAR (1948 – 1975) đã được thực hiện.

Ngoài các đề mục thông thường của một tác phẩm lịch sử cần phải có, nội dung của tập biên khảo lịch sử này có các đề mục chính sau đây:

1- Lời mở đầu: Một truyền thống của TVBQGVN (Prologue: A Vietnamese National Military Academy Tradition): Xuất phát từ truyền thống ái quốc mà TVBQGVN đã truyền đạt cho các SVSQ trong thời gian thụ huấn, được thể hiện qua tên gọi của nhiều khóa, qua các ca khúc quân hành, qua các khẩu hiệu trong doanh trại, qua các vở kịch lịch sử trong ngày mãn khóa…. tất cả những dữ kiện này có cùng một mục đích là hun đúc lòng ái quốc cho người SVSQ, và nâng cao tinh thần phục vụ của người SVSQ đối với quốc gia và dân tộc.

Cũng trong đề mục này, lịch sử và địa lý Việt Nam được trình bày khái quát nhưng đầy đủ, kể từ khi lập quốc cho đến ngày hôm nay. Những thăng trầm của dân tộc Việt Nam qua từng giai đoạn: Từ thời kỳ lập quốc, Bắc Thuộc, cuộc Nam Tiến kéo dài 700 năm, Pháp Thuộc, cho đến hoàn cảnh hiện nay. Phần này được trình bày như một “toát yếu” về lịch sử và địa lý, giúp cho độc giả trong thế hệ trẻ có được những hiểu biết căn bản về đất nước và dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ.

2- Phần I: TVBQGVN lịch sử hình thành và phát triển (Part I: The VNMA in the Passage of History): Dựa vào nội dung của sách TVBQGVN Theo Dòng Lịch Sử, về tiến trình hình thành và phát triển của TVBQGVN kéo dài trong 27 năm (1948-1975). Những thay đổi về trường sở, mục tiêu và đường hướng huấn luyện theo nhu cầu của quốc gia và những biến chuyển của chiến trường; những truyền thống và cơ cấu tổ chức của trường cũng được trình bày ở trong phần này.

3- Phần II: Các Khóa của TVBQGVN (Part II: The VNMA: Three Decades of Country, Honor, Duty and Traditions, 1948 – 1975): Đây là phần lược sử các khóa được lấy từ sách TVBQGVN Theo Dòng Lịch Sử. Đặc biệt những sự kiện chính trị và quân sự trong khoảng thời gian tuyển mộ, thụ huấn và mãn khóa của mỗi khóa được đề cập đến, cho thấy ảnh hưởng của chính trường và chiến trường Việt Nam đã có tác động khác nhau lên thành quả, và sự hy sinh của các sĩ quan tốt nghiệp của từng khóa.

4- Lời Bạt: TVBQGVN trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam (Epilogue: The VNMA in the context of the Vietnam War).  Phần này trình bày nhiệm vụ của các SVSQ tốt nghiệp, và đồng thời đề cập đến những hy sinh và cống hiến của các sĩ quan xuất thân từ TVBQGVN trong chiến tranh Việt Nam. TVBQGVN đào tạo những sĩ quan nòng cốt cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam tiền thân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH), vì thế lịch sử của TVBQGVN gắn liền với lịch sử của chiến tranh Việt Nam.

Cũng trong phần này, những lý do đưa đến sự thất bại của Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam được phân tích và bình luận. Dựa trên những chứng cớ và sự kiện lịch sử đã xảy ra trên các bình diện chính trị, quân sự và địa chính trị như: Ý đồ xâm lăng miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt ngay từ khi đất nước bị chia đôi (1954), chủ thuyết Domino bị bỏ dở nửa chừng, cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 đưa đến những hệ lụy: sự khủng hoảng lãnh đạo của miền Nam và quốc sách Ấp Chiến Lược bị xóa bỏ; cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân của Cộng Sản Bắc Việt, sự thất bại của chiến dịch Lam Sơn 719 (1971), chương trình Việt Nam Hóa chiến tranh, quan điểm bất nhất của Hoa Kỳ về chiến tranh Việt Nam; Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), Hiệp Định Paris 1973, khuynh hướng bài chiến tranh của phần lớn truyền thông Hoa Kỳ, sự thiếu vắng một chiến lược bền vững, sự yếu kém về tình báo, chiến thuật, việc trang bị vũ khí muộn màng cho QLVNCH so với đối phương…

Phần này có thể xem như một cái nhìn về chiến tranh Việt Nam của người sĩ quan xuất thân từ TVBQGVN.

5- Những chữ viết tắt, từ ngữ quân sự, danh từ riêng, địa danh cần giải thích (Glossary of Abbreviations and Terms)

6- Phần phụ lục (Appendices): để giúp làm rõ hơn và phong phú hơn những đề mục chính trong nội dung của tập biên khảo, đã có thêm các phụ lục sau đây:

– Tiến trình hình thành của Quốc Gia Việt Nam (Vietnam as A Country): Căn bản về lịch sử và địa lý Việt Nam qua các thời kỳ: quốc hiệu, lãnh thổ, các trận đánh lớn bằng hình thức đối chiếu.

– Hành trình của ngôn ngữ Việt Nam (Journey of the Vietnamese Language): kể từ thời lập quốc cho đến thời cận đại.

– Vai trò của TVBQGVN trong quốc gia Việt Nam Cộng Hòa (The role of the VNMA in the Republic of Vietnam), của Cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi, Cựu Chỉ Huy Trưởng TVBQGVN 1968-1972.

– Đà Lạt nổi nhớ không rời (Đà Lạt, the City of Remembrance): Lịch sử của thành phố, những hình ảnh yêu quý của “Đà Lạt ngày tháng cũ” trước năm 1975, trong nỗi nhớ không rời của người sĩ quan xuất thân từ TVBQGVN. Lý do của tên gọi hàm chứa niềm tin tưởng và thương mến của người dân miền Nam đối với người “Sĩ Quan Đà Lạt”.

– Bài phản biện loạt phim truyền hình “Vietnam: A television History (1983)” “PBS’ Vietnam: A Television History Series: A History or Just Another Story? – A South Vietnamese Perspective”.

– Thư mục chọn lọc (Selected bibliography in English Language RVNAF author): Liệt kê một số tác phẩm viết về Chiến Tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ của các cựu tướng lãnh và cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

7- Niên Biểu Lịch Sử: TVBQGVN và Chiến Tranh Việt Nam qua những sự kiện lịch sử theo dòng thời gian (The Synoptic Outline of The VNMA and Việt Nam War in the Passage of History 1945-  1975): Phần này trình bày quá trình của chiến tranh Việt Nam và TVBQGVN qua việc đào tạo sĩ quan các khóa trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam ngày càng lan rộng và khốc liệt theo thứ tự thời gian (1945 – 1975). Những sự kiện chính trị, quân sự đã ảnh hưởng lên các khóa của TVBQGVN như thế nào, những thay đổi quan trọng của QLVNCH về cơ cấu tổ chức, trang bị; tiến trình rút lui của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh ra khỏi chiến trường Việt Nam, Hiệp Định Paris 1973 và những đạo luật, nghị quyết của Quốc Hội Hoa Kỳ liên quan tới chiến tranh Việt nam cũng được đề cập đến trong phần này.

8- Ban Biên Soạn (The Editorial Board):

– Nguyễn Cao Đàm PhD (VNMA Class 14,1960) Chief Editor

– Trần Mộng Di (VNMA Class 10, 1954)  Institutional Advisor

– Lưu Xuân Phước (VNMA Class 24, 1971) Editor

– Nguyễn Anh Dũng MRE, PE (VNMA Class 25, 1972) Editor

–  Nguyễn Sanh (VNMA Class 28, 1975) Editor

–  Huỳnh Tiến (VNMA Class 28, 1975) Editor/Publisher

9- Hình thức của tập biên khảo: Do ban Biện Soạn tự thực hiện, cuốn biên khảo được in trên khổ giấy 7’’x10”, trình bày trang nhã, dày gần 400 trang, với nhiều hình ảnh có giá trị lịch sử về TVBQGVN.

Sách đã được phát hành tại Amazon vào ngày 28 tháng 12 năm 2020 với giá $15.99 một quyển. Độc giả muốn đặt mua tập biên khảo lịch sử “The Vietnamese National Military Academy and The Việt Nam War (1948 – 1975)” xin mở link này: https://amzn.to/3pE4yMF

Từ miền Tây Bắc Hoa Kỳ, ngày 30 tháng 12 năm 2020

Trân trọng giới thiệu và kính chúc một năm mới an khang, hạnh phúc.

CSVSQ Nguyễn Sanh, Khóa 28 TVBQGVN

Posted in Bài vở của nhiều tác giả, Đời Sống Quanh Ta | Leave a comment