… Chúng ta có thể mất mạng vì chiến tranh hay dưới bàn tay kẻ ác, nhưng đừng để linh hồn mình rơi vào địa ngục chỉ vì tội hèn nhát, hoặc tội phản nghịch lại Thiên Chúa…
***
Nhắc đến chiến tranh, người viết tin rằng dân tộc Việt Nam có quá nhiều kinh nghiệm “xương máu” về cảnh lầm than, chia ly, và tang tóc do chủ nghĩa cộng sản man rợ tạo ra cho người dân của cả hai miền Nam Bắc Việt Nam.
Tại Hoa Kỳ, vào thời kỳ nội chiến (The American Civil War), Tướng William Tecumseh Sherman, Tổng Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ, đã từng than rằng, “Tôi mệt mỏi và chán ngán chiến tranh… Chiến tranh là địa ngục.” (I am tired and sick of war… War is hell.)
Thời nào và ở đâu, chiến tranh là hình ảnh của máu đổ, thịt rơi. Dù vậy, trong một số trường hợp, người ta cũng cần phải chấp nhận sự tranh chiến để cứu người. Đấu tranh hay chiến tranh giải phóng đúng nghĩa, là cứu người; còn chiến tranh xâm lược là giết người. Bọn xâm lược luôn tìm cách gây chiến và giết người để đạt mục đích chiếm hữu đất đai, tài sản, và tài nguyên của quốc gia người ta.
Bài này được viết trong thời điểm Putin của Nga xua quân tấn công Ukraine một cách hung hãn. Thế giới đã liên tục nhắc đến sự dũng cảm và lòng yêu nước của Tổng Thống Ukraine- Volodymyr Zelenskyy và người dân Ukraine bởi vì họ phải đối đầu với Putin một kẻ cầm đầu một nước lớn, có vũ khí tối tân, kể cả bom nguyên tử. Đó là chưa kể đến việc Putin có quá nhiều thủ đoạn chính trị và hành động gian ác.
Tôi không rõ Ông Volodymyr Zelenskyy, Tổng Thống Ukraine có niềm tin tôn giáo nào, nhưng ông đã tránh được một trọng tội mà Thánh Kinh- sách Khải Huyền 21:8 khuyến cáo. Xin nói rõ hơn: Một số trọng tội không được vào Thiên Đàng, trong đó có tội hèn nhát, giết người, dâm loạn, và nói dối. Kinh Thánh cho biết rõ, “Phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai.”
Chỉ có kẻ dại và kẻ thù của Ông Volodymyr Zelenskyy mới dám phủ nhận lòng yêu nước và sự khôn ngoan của ông. Ông chọn lựa ở lại đất nước Ukraine để cùng người dân chiến đấu chống quân xâm lược. Ông đã nói với quốc dân Ukraine và thế giới rằng, “Đây có thể là lần cuối cùng quý vị thấy tôi còn sống” (This might be the last time you see me alive).
Trong chiến tranh, người ta chỉ có thể nói chuyện hòa bình với những ai còn lương tâm và tử tế chứ không thể hòa đàm với bọn ác gian và hiếu chiến. Muốn xây dựng, cần thiện chí của nhiều người tử tế, nhưng muốn tàn phá chỉ cần một đứa bất lương.
Người ta đã thấy, hễ có chiến tranh là có giết người. Chiến tranh theo kiểu một nước lớn áp đảo một nước nhỏ, “lấy thịt đè người”, chắc chắn phải tàn độc hơn sự suy nghĩ của con người. Điển hình, trong chiến tranh Việt Nam trước 30-4-75 và một số nước mà khối cộng sản nhắm đến đã tăng cường tối đa những loại vũ khí giết người hằng loạt tại các chiến trường. Vì cho mục tiêu bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên thế giới nên kẻ ác đã bất chấp mạng sống của con người.
Hành động cố tình xâm lấn các nước láng giềng của Putin đã cho mọi người trên thế giới thấy rõ bản chất hiếu chiến và man rợ của đương sự. Cho dù cho Putin và đồng bọn gian ác của hắn có mang nhãn hiệu gì hay chiêu bài gì đi nữa, chúng nó cũng đều là những kẻ giết người.
Địa ngục là nơi chứa chấp bọn giết người, bọn nói dối, những kẻ hèn nhát, và nhất là những kẻ phản nghịch Thiên Chúa. Cho dù là Putin của nước Nga hay bất cứ tên độc tài khát máu nào khác cũng đều bị Thiên Chúa lên án. Kinh Thánh chép, “Đức Giê-hô-va dò xét người công chính lẫn kẻ gian ác, và lòng Ngài ghét kẻ ưa thích bạo lực” (Thi-thiên 11:5).
Chắc chắn Thiên Chúa nhân từ và công bằng sẽ không đứng về phe nào trong chiến tranh, nhưng Ngài không thể ban phước cho những kẻ tạo ra chiến tranh cho mục tiêu bất chính.
Người viết không ngại để nói rằng ngay cả Hoa Kỳ được thành lập bởi những người có đức tin vào Thiên Chúa, nhưng ngày nay nếu Hoa Kỳ bị cai trị bởi những kẻ gian ác, dung dưỡng tội phạm, làm cho xã hội bị băng hoại, đạo đức suy đồi, xem thường mạng sống con người, và nhất là phản bội đồng minh, chắc chắn Thiên Chúa không thể ban phước cho bọn cầm quyền gian ác đó.
Muốn được phước và muốn tồn tại trước sự cai trị của kẻ ác, người dân phải biết Kinh Thánh dạy gì về vấn đề tuân phục chính quyền hầu có thể làm theo một cách đúng đắn.
Người viết xin tóm lược một phần trong thư của Sứ Đồ Phao-lô gửi cho người Rô-ma như sau, “Các quan quyền không phải để cho người làm lành sợ, mà để cho người làm dữ sợ…Vì quan quyền là chức việc của Đức Chúa Trời để làm ích cho ngươi… Và sợ kẻ mình đáng sợ, kính kẻ mình đáng kính” (Rô-ma 13:1-4). (Xin quý con dân Chúa tự đọc nguyên đoạn Kinh Thánh, Rô-ma 13, đừng để những kẻ hèn nhát bóp méo lời Kinh Thánh để dạy người khác theo ý họ)
Đọc sách Rô-ma 13, https://vietchristian.com/kinhthanh/tim.asp?btt/44/13 người tử tế và sáng suốt chắc chắn sẽ nhận ra rằng Kinh Thánh dạy con dân Chúa phải tuân phục những nhà cầm quyền làm những điều ích lợi cho dân. Kinh Thánh không hề dạy con dân Ngài tuân phục bọn cướp của giết người. Kinh Thánh không dạy người dân của một nước phải luôn luôn cúi đầu làm theo lệnh của phường thảo khấu, hoặc a tòng với đám buôn dân bán nước theo kiểu “Hãy khôn khéo như rắn, đơn sơ như chim bồ câu”.
Kẻ nào vì muốn “vinh thân phì gia” nên muối mặt làm tay sai cho quân xâm lược cướp nước mình, kẻ đó đáng tội hơn quân xâm lược. Bọn làm lợi cho ngoại bang người ta gọi chúng là phản quốc. Quân bán bán nước và những kẻ dạy lẽ đạo trong các tôn giáo nhưng lại a tòng hay bênh vực kẻ ác, thật đáng khinh và đáng bị nguyền rủa hơn những kẻ trộm cướp ngoài xã hội.
Những ai nhận mình là Tin Lành hay Công Giáo, hoặc cấp lãnh đạo cao trọng cở nào trong Thiên Chúa Giáo mà có suy nghĩ và hành động gian trá, thiếu tình yêu thương, nói những điều có lợi cho bọn gian ác, bênh vực bọn bất lương để thủ lợi và để tồn tại, hãy cẩn thận. Kinh Thánh đã khuyến cáo, “Kẻ nào nói với kẻ ác rằng: Ngươi là công bình, sẽ bị dân tộc rủa sả, và các nước lấy làm gớm ghiếc mình; Còn người nào quở trách kẻ ác ắt sẽ được đẹp lòng, và sự phước lành sẽ giáng trên họ” (Châm-ngôn 24: 24-25).
Kinh Thánh bản dịch Hiện Đại (Vietnamese Contemporary Bible) đã chép lời phán của Chúa Cứu Thế Jesus liên quan đến vấn đề chiến tranh như sau, “Các con sẽ nghe chiến tranh bùng nổ, và những tin tức khủng khiếp về chiến tranh. Đừng bối rối, vì các biến cố ấy phải xảy ra, nhưng chưa đến ngày tận thế. Dân tộc này sẽ tiến đánh dân tộc khác, nước nọ tuyên chiến với nước kia. Nhiều xứ sẽ gặp nạn đói và động đất. Đó chỉ là giai đoạn đầu của cơn đại nạn” (Phúc Âm Ma-thi-ơ 24:6-8).
Liên quan đến cuộc chiến do một nước lớn tấn công áp đảo một nước nhỏ, người viết xin kêu gọi quý con dân Chúa hãy cùng cầu nguyện cho cuộc khủng hoảng ở Ukraine và cho thế giới.
Cầu xin Chúa khiến cho nhiều người tìm đến sự quan phòng của Thiên Chúa hơn là chỉ dựa và sức của người khác hay chính mình. Cầu xin Chúa cho người Ukraine và người Nga ý thức rằng Chúa Cứu Thế Jesus là nơi trông cậy duy nhất cho hòa bình và tự do. Cầu xin Chúa ban cho Tổng Thống Vladimir Zelensky có sự khôn ngoan để lãnh đạo cuộc chiến chống quân xâm lược. Cầu xin Chúa ban bình an cho những người lính Ukraine chiến đấu bảo vệ tổ quốc và cho Tổng Thống và gia đình ông được bình an. Cầu xin Chúa ban phước cho vợ con của những người lính chiến đấu được sự bình an. Xin Ngài an ủi những bà mẹ, những người vợ, những người con mà chồng, cha, và con của họ đã anh dũng hy sinh vì chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Cầu xin Chúa thương xót và giải cứu đất nước Ukraine ra khỏi sự dữ. Cầu xin Chúa cho vấn đề truyền giáo tại đất nước này được kết quả tốt đẹp.
Ai tình nguyện hiến dâng đời mình hay mạng sống của mình vì lẽ công chính, chắc chắn họ đã có đủ can đảm để dấn thân vào chốn hiểm nguy. Người lính xông pha vào chiến trường để ngăn chận gót giầy xâm lược của bọn cướp nước thật xứng đáng được mọi người trân trọng và nhớ đến họ. Ai đang lãnh đạo các cuộc đấu tranh vì chính nghĩa, hay theo đuổi mục tiêu mang phúc lợi cho toàn dân thật đáng được mọi người kính trọng. Thành phần này dứt khoát phải ý thức lời dạy này trong Kinh Thánh, “Đánh giặc phải nhờ mưu khôn ngoan; muốn chiến thắng, cần nhiều mưu sĩ” (Châm Ngôn 24:6).
Kết luận
Trước khi kết thúc bài viết này, xin phép cho tôi nhắc đến đại văn hào người Anh- William Shakespeare. Ông đã từng nói một câu để đời trong một tác phẩm nào đó của ông, “Cowards die many times before their deaths; the valiant never taste of death but once.” Xin tạm thoát dịch, “Những kẻ hèn nhát phải chết đi chết lại nhiều lần, song người dũng cảm chỉ chết một lần mà thôi”.
Nếu Tổng Thống Volodymyr Zelenskyy của Ukraine và vợ con ông có chết bởi quân xâm lược Nga, họ chỉ chết một lần. Nếu linh hồn của họ phải xuống địa ngục, chắc chắn là do một trọng tội nào khác chứ không phải do tội hèn nhát mà ra.
Những ai đang bị hà hiếp hãy an tâm. Thánh Kinh khuyến cáo, “Kìa, kẻ dữ đang đẻ gian ác; thật nó đã hoài thai sự khuấy khỏa, và sanh điều dối trá. Nó đào một hố sâu, nhưng lại té vào hố nó đã đào. Sự khuấy khỏa nó đã làm sẽ đổ lại trên đầu nó. Và sự hung hăng nó giáng trên trán nó” (Thi-thiên 7:14-16).
Chúng ta có thể mất mạng vì chiến tranh hay dưới bàn tay kẻ ác, nhưng đừng để linh hồn mình rơi vào địa ngục chỉ vì tội hèn nhát, hoặc tội phản nghịch lại Thiên Chúa.
Bài giảng luận 25 phút (DT) Đề tài: Giữ Vững Đức Tin Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình
Vài điểm chính trong bài giảng:
Có thể chúng ta từng đi nhà thờ hai ba chục năm, nhưng đi chỉ để đi, hoặc chỉ để xin xỏ những ơn phước cho đời này mà lại xem nhẹ hay rất mơ hồ về Nước Thiên Đàng.
Có thể chúng ta đi nhà thờ hằng tuần, quyển Kinh Thánh luôn trên tay, nhưng không chú trọng đến những gì đã chép trong đó. Vì thế, đức tin chúng ta thật lạng quạng, có những lời nói và hành xử không khác chi những kẻ vô đạo.
Nếu chúng ta chỉ tự hào về dân tộc mình, dòng họ mình, gia đình mình, hoặc chính bản thân mình mà lại xem thường những lời dạy trong Kinh Thánh, hãy coi chừng: Việc đi nhóm hay đi xem lễ của chúng ta chỉ tốn thì giờ, tốn tiền ga, và điện nước của chính mình, của nhà thờ, hay của người khác mà thôi.
Nếu chúng ta nhận mình là người có Chúa, cho dù ở vị trí nào trong Tin Lành hay Công Giáo, chúng ta cũng phải chú tâm về vấn đề sống đạo. Dứt khoát không làm dáng đạo đức nhưng phải thật sự đạo đức, và phải học hỏi lời Kinh Thánh để sống mỗi ngày. Thà chúng ta học ít mà làm theo, còn hơn biết quá nhiều về lời Chúa mà vẫn thích làm ngược lại.
Còn nhiều điểm khác nữa…
Sau khi nghe xong, nếu quý vị có sự cảm động trong lòng, xin vui lòng chuyển bài giảng này cho nhiều người khác. Xin đa tạ!
…Tài nói chuyện giãn dị nhưng sâu sắc, và cách cư xử khiêm nhường của vị Linh Mục Công Giáo trẻ tuổi đã làm cho người tử tế phải biết tôn trọng ông…
Trong sinh hoạt hằng ngày, người ta thấy có những kẻ luôn miệng nói chuyện đạo đức. Thành phần này hay viết hoặc nói về sự tử tế, yêu thương, nhân từ, nhưng họ luôn làm ngược lại những gì họ cổ võ hay giảng dạy cho người khác. Vây mà, nếu có ai thắc mắc về những lời nói hay hành động mâu thuẫn của họ, lập tức họ lấy lời phán của Chúa ra để đánh phủ đầu người ta, “Đừng xét đoán để không bị xét đoán”.
Thực chất, lời khuyết cáo, “Đừng xét đoán để không bị xét đoán” của Chúa Cứu Thế Jesus là để dành cho những tên đạo đức giả thời xưa. Bọn đó dạy lẽ đạo cho người ta, thích lên án người ta, nhưng chính bọn chúng sống ngược lại những gì mình dạy. Lời trách mắng này được ghi rõ trong sách Phúc Âm Ma-thi-ơ 23. Có ít nhất bảy lần Chúa Cứu Thế Jesus mắng mấy kẻ giả rằng, “Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình…” Như vậy, không thể nào cho rằng Chúa cấm con người khuyên lơn, phê phán những khuyết điểm, hay những sai trái của nhau. Nếu kẻ nào dạy người khác một đường, còn mình lại làm một nẽo như đã nói, nhưng lại thích phê phán khuyết điểm hoặc lỗi lầm của người khác, mới xứng đáng nhận lời khuyến cáo, “Đừng xét đoán để không bị xét đoán”.
Bọn giả hình thời xưa và bọn đạo đức giả thời nay khá giống nhau một điểm: Thích người khác tôn trọng mình, luôn dạy người khác sống đạo đức, còn mình lại hành xử như phường vô đạo.
Còn những kẻ “dựa hơi” Đức Phật thì sao? Xin nói rõ, những kẻ dựa hơi Đức Phật hay bọn gian ác mang vỏ bọc Phật Giáo để làm xấu Phật Giáo, hoàn toàn khác với những tu sĩ Phật Giáo hoặc Phật tử chân chính. Đó là những người tử tế mà tôi từng giao tiếp hay từng làm bạn với họ.
Đừng quên, bọn gian ác biết cách trà trộn trong hàng ngũ Phật Giáo theo kiểu, “Dựa hơi hùm, vểnh râu cáo” để phá hoại. Bọn ngày không ngần ngại mang lời Đức Phật để dằn mặt thiên hạ rằng, “Thấy lỗi mình, đừng thấy lỗi người”. Những bọn gian ác và tay sai của chúng nó dư thừa hành đông lưu manh, dối trá và hiểm độc để phỉnh gạt và hù dọa những người vì quá mê tín nên không dám đụng đến chúng nó.
Như mọi người thấy, ngày nay không ít kẻ dựa hơi tôn giáo, có phẩm trật, hay chức sắc trong các tôn giáo tha hồ làm bậy mà không chột dạ bởi vì những kẻ đó dư sức biết rằng: Số người vì quá u mê hay mê tín về niềm tin tôn giáo rất dễ dàng xem những tên bất xứng trong các tôn giáo như thể là “thần thánh”. Dĩ nhiên, tôi không quơ đũa cả nắm, nhưng thực chất, các bậc chân tu ngày nay đã trở thành thiểu số.
Người ta đã có nhiều bằng chứng: Không ít kẻ thích làm bậy nhưng vẫn mong người khác trân trọng gọi mình là “cha”, “sư”, hay “thầy”. Đó là lý do khiến cho các bậc chân tu phải rầu và người tử tế phải lắc đầu ngao ngán.
Tôi từng quen biết một Linh Mục Công Giáo Việt Nam trẻ tuổi hơn tôi từ Việt Nam ra hải ngoại sau này. Vị linh mục này từng đi nhiều nơi để thuyết trình về sự băng hoại đạo dức của xã hội Việt Nam và tội ác của Việt cộng ngày hôm nay. Khi ông nói chuyện với người lớn tuổi, ông luôn xưng em hay xưng cháu. Dù vậy, tôi dám bảo đảm, ngoài những kẻ gian ác bị ông tố cáo, hoặc những kẻ ganh ghét với ông mới dám xem thường ông, chứ không ai mà không quý trọng ông. Tài nói chuyện giãn dị nhưng sâu sắc, và cách cư xử khiêm nhường của ông đã làm cho người tử tế phải biết tôn trọng ông.
Chúng ta đang ở vào thời điểm mà đạo đức con người ngày càng sa sút, nhất là ở các nước độc tài cộng sản. Từ xưa đến nay, con người khá giống nhau điều này: Người ta ưa chuộng những điều dối trá, hơn là chân lý. Đó lá lý do, người nhẹ dạ thường tin tưởng những lời to nhỏ của phường đểu cáng hơn là những lời thẳng thắn chân thật của người tử tế.
Kinh Thánh đã khẳng định, “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được? (Gie-re-mi 17:9)
Đối với những kẻ nhận mình có đạo hay có Chúa, và thích “dựa hơi” những nơi gọi là Hội Thánh Chúa để trục lợi, hay đánh bóng cá nhân, hãy coi chừng! Kinh Thánh đã khuyến cáo, “Kẻ nào được giàu có chẳng theo sự công bình, cũng như chim đa đa ấp trứng mà mình chẳng đẻ ra; đến nửa đời người, nó phải mất hết, cuối cùng nó ra là ngu dại” (Gie-re-mi 17:11).
Tôi xin phép ngưng trước khi có người phải bực mình hay bị “chạm nọc” bởi những gì tôi đã nêu ra. Có ai đã lỡ bực mình rồi, nếu còn thì giờ, xin vui lòng nghe tiếp bài giảng luận 24 phút của tôi với tiêu đề, Tôn Trọng và Tự Trọng” để hy vọng nó sẽ rõ ràng hơn.
Những kẻ có nhân cách chỉ ngang hàng hoặc thấp kém hơn “thằng”, đừng mong chờ người khác tôn trọng mình và trân trọng gọi mình là “cha”, “sư”, hoặc “thầy”.
… Con người hữu hạn không thể nhìn vào cách qua đời của người khác để nói rằng đó là “phước”, hay “họa”, hoặc làm thước đo cho tiêu chuẩn đạo đức…
Câu nói “chết là hết” chỉ là câu nói có tính cách buông xuôi hoặc an ủi nhau trong tuyệt vọng. Vì người ta không tin “chết là hết” nên mới có chuyện người sống làm lễ cầu hồn hay cầu siêu cho người đã chết. Nếu ai dám khẳng định rằng chết là hết, xin phép cho tôi hỏi: Nếu chết là hết, tại sao có người còn hẹn gặp nhau ở kiếp sau, hẹn gặp nhau chốn tuyền đài để làm gì? Chúc cho người chết được “tiêu diêu miền cực lạc” để làm chi? Thật sự, chết không phải là hết, bởi vì, Thánh Kinh đã bày tỏ, “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét” (Hê-bơ-rơ 9:27).
Căn cứ vào lời của Thánh Kinh và những gì Chúa Cứu Thế Jesus phán lúc Ngài còn tại thế, tôi có thể khẳng định mà không sợ sai, đó là: Chết không phải là hết và cũng không không còn một kiếp nào khác, hay có nơi nào đặc biệt để con người có thể kết thúc công trình tu tập còn dang dỡ như nhiều người đã tin như thế. Dĩ nhiên, nếu có ai tin ngược lại những gì tôi khẳng định, tôi xin tôn trọng lòng tin của người đó.
Cái chết đến với con người kể từ khi Tổ Phụ loài người là Ông A-đam đã phạm tội cùng Đức Chúa Trời. Sự chết không tha bất cứ một ai. Không chết trẻ, cũng phải chết già. Cái chết đến với con người bằng nhiều cách. Có những cái chết bất ngờ, nhưng cũng có cái chết một cách từ từ, hay dai dẳng. Thánh Kinh Cựu Ước chép lời than thở của Vua Đa-vít về sự chết như sau, “Ai là người sống mà sẽ chẳng thấy sự chết? Ai sẽ cứu linh hồn mình khỏi quyền âm phủ?” (Thi Thiên 89:48).
Thực tế, nhiều người trong chúng ta là những con người yếu đuối bất toàn nơi trần gian này lại không ý thức về điều đó, mà cứ loay hoay tìm cách để tự cứu, hoặc tiếp tục lặn ngụp trong cái nơi mà mình cho là “bể khổ”.
Vì biết đời là cạm bẫy, là chốn tạm bợ, là những nơi sản sanh bao điều tội lỗi, chống nghịch lại Đức Chúa Trời, Sa-lô-môn, con trai vua Đa-vít, một vị vua khôn ngoan đã khuyến cáo rằng, “Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết” (Châm Ngôn 14: 12). Tuy nhiên, Vua Đa-vít cũng mách cho con người tránh khỏi sự chết đời đời nơi hoả ngục, trong câu 27 như sau, “Sự kính sợ Ðức Giê-hô-va vốn một nguồn sự sống, đặng khiến người ta tránh khỏi bẫy sự chết.”
Vì con người sợ sau khi chết phải sa vào địa ngục nên ai cũng tìm cách để được vào Niết Bàn bằng cách cố làm lành, lánh dữ, và diệt tham sân si, hỉ, nộ, ái ố, như lời Phật dạy. Tôi không tin là có một Phật Tử thuần hành nào lại không biết rằng chính Đức Phật đã khẳng định là Ngài không ban phước hay giáng hoạ. Nói một cách khác, Đức Phật không thể can thiệp khổ vui của chúng sanh. Theo lời Đức Phật, Ngài chỉ có thể hướng dẫn chỉ đường cho những ai muốn tránh khổ tìm vui. Nếu chúng sanh tu kiếp này không xong, phải tu thêm kiếp khác. Nếu kiếp khác tu cũng không xong, phải chịu muôn đời trầm luân trong bể khổ.
Tôi không biết có được bao nhiêu người đã thật sự diệt được “tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố” như Đức Phật dạy? Hoặc bao nhiêu người thật sự đã làm lành lánh dữ? Bao nhiêu người đã vào được Niết Bàn? Riêng cá nhân tôi, hoặc những ai gọi Thiên Chúa là Cha đều ý thức mình là một tội nhân trước mặt Thiên Chúa. Ý thức mình là người yếu đuối, bất toàn, và không thể tự cứu nên đã đầu phục Chúa. Cũng xin nói rõ, đầu phục Chúa khác với thành phần tin có Chúa, cũng nhận mình là con dân Chúa nhưng lại có đời sống như thể tay sai của ma quỷ. Thành phần này vẫn giữ lối sống gian dối, lọc lừa, điêu ngoa, xảo quyệt và cứ hãnh diện nhận mình là người có đạo, hay có Chúa.
Kinh Thánh có khuyến cáo, “Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu” (Công Vụ 4:12). Bất cứ ai tin rằng do sự làm lành, lánh dữ, làm từ thiện, hoặc tạo nhiều công đức cho đời này để đủ tiêu chuẩn cho linh hồn mình được cứu, xin hãy cẩn thận. Chớ nên để mình trúng kế ma quỷ mà hãy quan tâm về lời khuyến cáo của Thánh Kinh, “Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Ðức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình” (Ê –phê-sô 2:8-9).
Xin phép cho tôi “lạc đề”. Có một nhà báo phỏng vấn tôi qua một câu hỏi, “Thế nào là một người tốt?” Tôi đã không ngần ngại trả lời rằng, “Người được cho là tốt là người chưa bị lộ những điều xấu.” Cách trả lời của tôi đã bị một số người bình phẩm vì họ cho rằng tôi quá triết lý. Xin thưa, tôi không triết lý mà tôi tin rằng, đó là do Chúa Thánh Linh mở mắt cho tôi, để tôi thấy được con người thật của tôi. Điều này cũng giống như một người từng có thành tích “good credit” với ngân hàng. Nếu người đó trả nợ đúng kỳ hạn, sẽ tiếp tục được xem “good credit” mà vì hoàn cảnh, hay cố tình không trả nợ sẽ trở thành kẻ “bad credit”. Cho nên, ý niệm tốt hay xấu cũng khá giống như thế, y như trở bàn tay.
Nếu tôi dám tự hào rằng, dòng họ nhà tôi ba đời làm lành lánh dữ, không làm gì ác, không hại ai, và tôi không làm gì sai để cho rằng tôi là kẻ có tội như Kinh Thánh đã khẳng định, “Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:23).Giả sử, tôi dám kiêu ngạo như thế theo tiêu chuẩn con người, có thể tạm chấp nhận được, nhưng theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa, chắc chắn những điều gọi là “làm lành, lánh dữ”, hay cái gọi là “công đức” của tôi chỉ là áo nhớp trước mặt Ngài mà thôi. Điều này không do tôi đại ngôn, mà thật sự Tiên Tri Ê-sai thời Cựu Ước đã than rằng, “Chúng tôi hết thảy đã trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp; chúng tôi thảy đều héo như lá, và tội ác chúng tôi như gió đùa mình đi” (Ê-sai 64:6).
Chúng ta hãy ý thức rằng mình là người có tội theo tiêu chuẩn của Chúa và mình không thể được cứu bởi những việc làm lành, hay những việc làm có tính cách công đức của mình. Mà đó là do ơn phước Chúa ban cho những ai thật sự đầu phục Ngài. Bởi vì, Chúa Cứu Thế Jesus đã phán, “Người nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy”(Giăng 7:38).
Trở lại vấn đề sự chết. Chúa hứa ai tin vào chương trình cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế Jesus sẽ được cứu, được làm con Thiên Chúa, và được sự bình an thật trên trần gian này. Nhất là, sau khi chết, linh hồn được sống cùng Chúa đời đời trên Thiên Quốc. Ai tiếp nhận Chúa tội người ấy sẽ được tha, linh hồn sẽ được cứu, dù đã chết rồi. Ðây là lời hứa của Chúa Cứu Thế Jesus, “Ta là sự sống lại và sự sống; người nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi” (Giăng 11:25).
Người ta thường nghe các linh mục, mục sư hay giáo sĩ của Thiên Chúa giáo giảng về sự sống đời đời. Điều này phải được hiểu là sống đời đời trên Thiên Quốc chứ không phải sống đời đời nơi trần gian tạm bợ. Do đó, người ta sẽ thấy con dân Chúa cũng bị bệnh nan y, cũng chết trước các dịch bệnh, cũng gặp các tai nạn, và có khi cũng phải đón nhận những cái chết thê thảm như bao người. Dù vậy, trong hoàn cảnh nào họ cũng nhận được sự bình an thật, và nếu có chết, họ biết linh hồn mình sẽ được về đâu. Con người hữu hạn không thể nhìn vào cách qua đời của người khác để nói rằng đó là “phước”, hay “họa”, hoặc làm thước đo cho tiêu chuẩn đạo đức.
Bất cứ ai trên trần gian này sau khi tắt thở, thông thường thân xác người đó được người sống gởi vào lòng đất hay giải quyết cách nào tùy theo hoàn cảnh. Riêng những ai đã công khai tiếp nhận Chúa Cứu Thế Jesus làm cứu Chúa của mình, cho dù người đó có chết cách nào hay được chôn cất cách gì cũng sẽ được sống lại vì Ngài đã hứa, “Ta là sự sống lại và sự sống; người nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi” (Giăng 11:25).
Kết luận Chúng ta cần ý thức thân phận yếu đuối và bất toàn của mình. Chết chưa phải là hết mà còn chờ Thiên Chúa định tội. Chết không phải là hết mà là kết quả khi chúng ta chọn lựa Thiên Đàng hay địa ngục, lúc chúng ta còn sống trên trần gian này. Cha mẹ không thể tin và quyết định giùm cho con cái. Con cái cũng không thể tin hay quyết định thay cho cha mẹ. Nói theo kiểu nhân gian, “Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc”. Không ai có thể tu giùm ai được.
Riêng lẽ đạo của Chúa: Để giúp một người sau khi chết, linh hồn người đó được vào Thiên Đàng mà không cần phải làm công đức gì cả, nhưng chỉ cần công khai tiếp nhận Chúa và sống theo lời dạy của Kinh Thánh.
Con dân Chúa được cứu để làm lành chứ không phải làm lành để được cứu. Để linh hồn mình được cứu rỗi, Thánh Kinh có bày tỏ, “Vậy nếu miệng ngươi xưng Ðức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Ðức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu” (Rô-ma 10: 9).
Ai đang đau khổ và tuyệt vọng xin đừng nản lòng. Hãy mạnh dạn liên lạc với tôi, để tôi được hân hạnh hướng dẫn và cầu nguyện cho người đó tiếp nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa qua Chúa Cứu Thế Jesus. A-Men!
(Tài liệu trích từ văn bản do Thế thứ 18 cung soạn, Ban tu chính phổ hệ Bùi Kiến Tiến – Bùi Kiến Quang)
Nhìn Lại Lịch Sử
Bác sĩ Tín, chuyện về người làm ra chai dầu xứ Việt
Những ai đã sống qua thời miền Nam tự do, ắt cũng phải nhớ đến chai dầu khuynh diệp. Sản phẩm nội hoá của người Việt được tin dùng trong toàn dân, đã vậy lại là một phần lịch sử đáng nhớ của người Sài Gòn nói riêng, và miền Nam Việt Nam nói chung.
Chai dầu của các thế hệ người Việt tự do
Dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín bắt đầu phổ biến vào những năm 1950 của thế kỷ trước trên toàn miền Nam. Vào những năm ấy, trong túi các bà nội trợ, nhưng người buôn bán và các học sinh lúc nào cũng có chai dầu gió khuynh diệp Bác sĩ Tín.
Ngoài công dụng trị tứ thời cảm mạo, dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín luôn gắn với các sản phụ và trẻ sơ sinh. Trong một gia đình có người ở cữ, mùi dầu khuynh diệp luôn thoang thoảng quanh nhà. Một nồi nước xông cũng cho vô vài giọt. Sản phụ sau khi xông xong, mùi khuynh diệp bao trùm cả người.
Đứa bé cũng thế, tắm rửa xong được xoa dầu ở lòng bàn tay, chân, ở thái dương. Người lớn, đau bụng cũng xoa. Đau răng, có người dùng cây tăm quấn bông gòn nhúng dầu chấm vào lỗ răng sâu. Người già nhức lưng đau tay chân cũng được xoa bóp bằng dầu khuynh diệp.
Dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín là một loại dầu màu xanh – sau này một số họa sĩ thường gọi là màu xanh khuynh diệp – đựng trong những chai nhỏ từ 5cc đến 100cc như trong một trích đoạn truyện ngắn: “Trước giờ chuyến xe đò Phi Long chuyển bánh đưa cậu con trai lên Sài Gòn trọ học, một bà má miền Nam, móc túi lấy ra một chai dầu tròn tròn, màu xanh lá cây đậm đang xài còn khoảng 2/3 đưa cho thằng con nói: “Con cất chai dầu khuynh diệp, phòng khi trái gió trở trời…”.
Dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín ra đời khoảng cuối thập niên 40 của thế kỷ trước, sau khi Bác sĩ Bùi Kiến Tín chuyển nhà thuốc Đông Dược vào Sài Gòn thành lập nhà thuốc Bác sĩ Tín, bào chế ra loại dầu gió có thương hiệu cùng tên.
Ông sinh ra tại làng Bảo An, Điện Bàn (Quảng Nam) nhờ vậy lúc nhỏ ông biết được người dân quê ông hay dùng dầu tràm nấu từ lá chổi (chuổi). Sau khi tốt nghiệp y khoa tại Đại học Paris (1942), ông về nước và bắt đầu sản xuất loại dầu này và mua bản quyền dầu khuynh diệp của ông Viễn Đệ ở Huế. Ngoài dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín còn có thuốc ho Bác sĩ Tín, thuốc bổ Bác sĩ Tín. Các sản phẩm của Bác sĩ Tín đều được ưa chuộng.
Dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín có công thức đặc biệt riêng của nó. Đây là một loại dầu gồm hỗn hợp các loại tinh dầu như dầu tràm, dầu bạc hà, dầu hương nhu. Nhưng chủ yếu vẫn là tinh dầu khuynh diệp. Tràm, bạc hà, hay hương nhu… thì thời đó Việt Nam có thể trồng và chưng cất được, nhưng tinh dầu khuynh diệp với tinh chất Eucalyptol (lấy từ cây hồng tràm, tên khoa học là Eucalyptus) phải nhập từ Bồ Đào Nha.
Nhưng Bác sĩ Tín là ai?
Bác sĩ Bùi Kiến Tín sinh ngày 25 Tháng Chín năm 1912 (15-8 Nhâm Tý) tại quê ngoại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nguyên quán làng Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ ông còn có tên là Bùi Thứ. Ông là trưởng nam của ông Bùi Biên (ông Cửu Thứ) và bà Phan Thị Yến.
Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học và hào phú, gia đình ông là người khai hoang lập ấp ở vùng Trung Phước, huyện Quế Sơn và trở nên một gia đình giàu có vào hạng nhất nhì huyện ở tỉnh Quảng Nam trước Thế chiến thứ hai.
Năm 1930, đúng 18 tuổi, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Hòa con gái lớn của ông bà Nguyễn Liệu, tục gọi ông Nghè Liệu, ở làng Quảng Hóa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Ông bà sanh hạ bảy người con gồm bốn trai, ba gái.
Ông Bùi Thứ thuở nhỏ học chữ Nho với một ông thầy đồ. Năm 1918 ông được gởi về bên ngoại đi học chữ Quốc ngữ tại trường làng Bảo An. Năm 1919, ông được gởi đi theo ông Giáo Hồ (anh cả của bà Cửu Thứ) làm hương sư ở làng Văn Cù tỉnh Thừa Thiên, ông bắt đầu học chữ Pháp. Năm 1925 học Đệ nhất niên trường Quốc Học Huế, nhưng sau đó một năm 1926 ông bị đuổi khỏi trường Quốc Học vì có tên trong sổ đen của sở Mật thám Pháp với lý do Hai Thứ thường hay lui tới chùa Từ Đàm nơi thực dân Pháp đang giam lỏng nhà Đại cách mạng Phan Bội Châu và tham gia vào phong trào bãi khóa tại trường Quốc Học cùng lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Cùng năm đó, Hai Thứ ra Hà Nội theo học tại trường Albert Saraut và đổi tên là Bùi Kiến Tín.
Tháng Tám năm 1932, Bùi Kiến Tín đậu Tú tài Tây. Cả làng, tổng, phủ, huyện, họ hàng bên nội, bên ngoại, bên vợ, đều tổ chức đón rước “Vinh quy Bái tổ” rất là trọng thể. Cờ trống võng lọng với một đoàn người cưỡi ngựa đi rước cậu Tú như rước một Trạng nguyên thuở xưa. Đám rước đi theo đường bộ từ đền thờ Khổng Tử ở Hội An (Faifo) về đến Vĩnh Trinh (bên nội), qua Bảo An (bên ngoại), đến Quảng Hóa (bên vợ), rồi đến Trung Phước. Đến đâu cũng “đóng quân” lại, mổ bò trâu, cúng bái, tiệc tùng mấy ngày đêm. Hồi đó cho đến 1935, cả tỉnh Quảng Nam trên 900,000 dân mà chỉ có hai người đậu Tú tài Tây, Lê Nhiếp đậu bên Pháp và Bùi Kiến Tín đậu ở Hà Nội.
Tháng Hai năm 1935, sau một thời gian học luật tại Đại học Luật khoa Hà Nội, ông được học bổng du học ở Pháp theo học ngành y khoa bác sĩ. Năm 1937 được tin thân mẫu từ trần, ông về nước thọ tang, xong trở qua Pháp học tiếp. Trong những năm tại Pháp ông đã cố công xem xét các phương pháp điều chế thuốc của Âu Mỹ, lại có cơ hội thí nghiệm những thảo mộc ở nước nhà gửi sang, lọc những nguyên chất dùng vào việc chế thuốc, thâu nạp cái hay của người đặng nâng cao giá trị những dược phẩm dồi dào của xứ mình.
Năm 1940 ông tốt nghiệp y khoa bác sĩ. Năm 1942 Bác sĩ Tín cùng với Bác sĩ Trương Đình Ngô và Dược sĩ Trương Xuân Nam lập một cơ sở sản xuất Âu Dược tại Qui Nhơn, tỉnh Bình Định, về sau vì thời cuộc, cơ sở nầy được dời vào Sài Gòn, Bác sĩ Tín chuyển sang nghiên cứu Đông Y. Năm 1944, ông đưa cả gia đình từ Quảng Nam vào lập nghiệp tại Sài Gòn và lập ra viện bào chế Đông dược miền Nam gọi là Nhà thuốc Bác sĩ Tín tại Phú Lâm Sài Gòn, Nhà thuốc Bác sĩ Tín được thành lập từ đó và phát triển không ngừng cho đến ngày 30 Tháng Tư 1975 và tạo nên thương hiệu “Dầu Khuynh Diệp Bác sĩ Tín”.
Bác sĩ Tín là vị bác sĩ Tây y người Việt Nam đầu tiên đem kiến thức Tây y để nghiên cứu các vị thuốc Nam (Việt Nam) vốn có rất nhiều tại nước ta và thuốc Bắc (Trung Hoa) kết hơp với nhau để bào chế ra những loại thuốc bình dân, rẻ tiền và công hiệu như VITOPORCE BST; ĐẠI Bổ BST; SIRO NHAU BST… và nổi tiếng nhất là “Dầu Khuynh Diệp Bác sĩ Tín” là một nhãn hiệu thương mại đã được cầu chứng tại Việt Nam trước 1975, ông sử dụng tiếng Việt trên các toa nhãn nhằm quảng bá rộng rãi đến công chúng, nhất là bà con nghèo ở thôn quê biết đến loại dầu gió do người Việt sản xuất. Khoảng năm 1959-1960 ông đã tiến hành quảng cáo tiêu dùng sản phẩm với giải thưởng trúng một chiếc xe sản xuất tại Anh Quốc hiệu AUSTIN… nên cũng có thể coi ông là người đầu tiên khai sinh ra môn Marketing ở Việt Nam.
Bác sĩ Tín được nhiều người biết đến không chỉ riêng trong lãnh vực Đông y dược mà ông còn là một nhà kinh doanh ở nhiều lãnh vực khác như về kỹ nghệ và tài chánh: Ông và trưởng nam Bùi Kiến Thành là đồng sáng lập viên công ty Bình Điện VABCO ở Biên Hòa (nay là nhà máy ACCU Đồng Nai), ông thành lập Đông Phương Ngân Hàng và Việt Nam Công Thương Ngân Hàng tại Sài Gòn. Trong ngành Địa ốc, ông thành lập công ty Địa ốc Tân Ba. Về Âu dược ông và các con lập ra các viện bào chế Tiandi tại Chợ Lớn và viện bào chế Hana tại đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận. Ngoài ra Bác sĩ Tín còn có ý định thành lập một khu giải trí theo kiểu Disneyland tại khu đất đối diện Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa. Dự án đang tiến hành thì miền Nam bị cưỡng chiếm vào 30 Tháng Tư 1975 nên hoài bão của ông đành dang dở.
Về lãnh vực văn hóa xã hội, Bác sĩ Tín cũng đã đóng góp rất nhiều công của cho các tôn giáo, hội đoàn, xây dựng nhiều công trình hữu ích cho hậu thế như Thích Ca Phật Đài tại Vũng Tàu; Viện Đại học Vạn Hạnh; trường Trung Học Bồ Đề tại Sài Gòn. Bác sĩ Tín cũng sáng lập và gia nhập nhiều tổ chức ái hữu, từ thiện và chuyên môn như Hội Khoa học và Kỹ thuật; Hội Ái hữu Quảng Đà; Hội Bùi Gia Vĩnh Thế; Phù Luân Hội (Rotary Club) khu vực Á châu và toàn thế giới. Khi di tản ra ngoại quốc, có lần Bác sĩ Tín đã cùng với cụ Phan Quảng Nam, ông Phan Bá Phụng, nhà thơ Phùng Minh Tiếng… vận động tái lập lại Hội Đồng hương Quảng Nam lại Nam Cali, nhưng công việc còn đang dang dở thì cụ Phan Quảng Nam bị thảm sát tại San Diego và Bác sĩ Tín phải về Pháp với gia đình nên công việc này đành xếp lại.
Về chính trị, Bác sĩ Tín đã tham gia vào nội các của Thủ tướng Ngô Đình Diệm với chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông Tin (1954). Sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa được thiết lập, ông không tham chính và được trưng tập phục vụ trong quân đội với cấp bậc y sĩ Trung tá làm việc tại Huế và Cà Mau một thời gian, sau đó ông được cử giữ chức Y sĩ Trưởng Phủ Tổng thống và Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống (1960).
Năm 1969 ông ra tranh cử dân biểu Quốc Hội tại Sài Gòn nhưng thua phiếu Luật sư Trần Văn Tuyên. Kể từ đó ông chú tâm vào việc kinh doanh, công tác xã hội và tôn giáo cho đến ngày rời khỏi nước vào giờ phút chót của Tháng Tư năm 1975.
Đối với Bùi Tộc Vĩnh Trinh ông đóng góp rất nhiều công sức và tâm huyết cho tộc ta, giúp đỡ tạo điều kiện công ăn việc làm cho nhiều bà con còn khó khăn, lập Bùi Gia Vĩnh Thế Tương Tế Hội, lập Xá Lợi Phật Đài ở đồi Bác sĩ Tín (Biên Hòa), làm nơi cho bà con tộc Bùi giỗ tổ hằng năm xem như từ đường của Bùi Tộc trước 1975.
Với một tinh thần hiếu học và có tính cộng đồng xã hội cao, những năm 60-70 của thế kỷ 20 ông đã lập một quỹ học bổng cho những thanh niên ưu tú nhất của Quảng Nam có điều kiện được ra nước ngoài du học, góp phần canh tân đất nước bằng con đường giáo dục…
Ông mất ngày 23 Tháng Tám 1994 nhằm ngày 17-7 năm Giáp Tuất, thượng thọ 83 tuổi. Ông ra đi để lại bao tiếc thương cho con cháu, bà con dòng tộc và những người chịu ơn ông lúc sinh thời. Năm 1994 tại Sài Gòn có làm lễ truy điệu tưởng nhớ ông với rất nhiều người tham dự. Ông được an táng tại nghĩa trang thành phố Carqueiranne, Var, Pháp.
Sau năm 1975, chính quyền Bắc Việt chiếm hữu rất nhiều thứ ở miền Nam, bao gồm luôn cả công thức sản xuất dầu khuynh diệp. Hiện nay một số xí nghiệp dược phẩm Việt Nam đã dùng công thức của Bác sĩ Tín để tái sản xuất dầu khuynh diệp mang tên ông – nhưng lạ thay, một chai dầu đã đi theo cùng nhiều thế hệ, được yêu mến, nhưng rồi khi được sản xuất ra từ chế độ mới, nó cũng như phai nhạt dần và gần như bị quên lãng.
(Tài liệu trích từ văn bản do Thế thứ 18 cung soạn, Ban tu chính phổ hệ Bùi Kiến Tiến – Bùi Kiến Quang)
…Cúm Tàu có làm chết người thật nhưng vẫn không nguy hiểm bằng sự sợ hãi mà kẻ ác gieo vào đầu con người, và chính sự sợ hãi đó mới là thủ phạm giết dần tinh thần lẫn thể chất của chúng ta…
Có một số ít độc giả và bạn hữu hỏi tôi rằng, “Mọi người có nên chích Vaccine để ngừa Covid-19 hay không?” Tôi trả lời, “Quý vị đã hỏi lộn người bởi vì nó nằm ngoài chuyên môn của tôi.” Dù vậy, tôi cũng cho họ biết rằng, trước khi quyết định chích ngừa Vaccine Covid-19, tôi đã tìm hiểu và nhận được sự giải thích từ một số bác sĩ cho vấn đề quan trọng này. Nay tôi xin viết ra để chia sẻ cùng quý độc giả và thân hữu xa gần.
Nhóm người thứ nhất mà tôi thăm dò về vụ chích Vaccine cúm Tàu là bốn người em bên nhà vợ của ông bạn thân với tôi. Đây là những bác sĩ trẻ tuổi, tốt nghiệp y khoa tại Hoa Kỳ và liên tục hành nghề trong phòng cứu cấp và chuyên môn khác trong các bệnh viện hơn chục năm qua. Mấy vị bác sĩ trẻ này cho biết họ đã chích ngừa Vaccine Covid-19.
Đối với những bác sĩ vừa nêu, tôi rất tin tưởng vào kiến thức y khoa của họ nhưng vấn đề chính trị muôn mặt tại Hoa Kỳ hiện nay, tôi nghĩ, có thể họ chưa đủ kinh nghiệm. Vì thế, tôi đã tìm hiểu thêm từ nhiều nguồn tin khác. Tôi có vào Internet để tìm đọc những bài viết của các bác sĩ Mỹ, Việt, và vài tài liệu về y khoa cho vụ chích ngừa dịch bệnh Covid. Nhiều ý kiến trái ngược nhau, nhưng sự khuyến khích là “nên chích ngừa” vẫn là đại đa số.
Trong thời gian qua, có quá nhiều tin đồn xấu và tốt về chuyện chích Vaccine Covid-19. Người này ủng hộ, người kia tẩy chay, nhưng lý do về phía “tẩy chay” vẫn khó thuyết phục được tôi bởi người đưa tin chỉ nói bâng quơ chứ không có nguồn gốc để tôi có thể kiếm chứng.
Có người cho rằng, mọi người cần suy nghĩ kỹ trước khi chích ngừa bởi có loại Vaccine tạo “Biến chứng đông máu gây chết người”. Một bác sĩ cho rằng, “Biến chứng đông máu gây tử vong sau khi chích ngừa là có thật. Tuy nhiên, tỉ lệ vô cùng thấp. Nếu cho rằng chích ngừa dễ chết, việc này khó xảy ra hơn là trúng số độc đắc.”
Tôi có gọi hỏi một vị bác sĩ y khoa tại Miền Nam California mà tôi được hân hạnh quen biết nhiều năm qua. Ông từng là bác sĩ tổng quát trước 30-4-75. Sang Hoa Kỳ, ông học lại y khoa và hành nghề liên tục cho đến khi về hưu cách đây vài năm. Đây là vị bác sĩ mà tôi từng hỏi ông những câu hỏi về y khoa trong những trường hợp bác sĩ gia đình của tôi trả lời mà tôi chưa hài lòng. Có thể nói, chưa lần nào tôi hỏi ông về những câu hỏi y khoa mà ông không trả lời thỏa đáng. Ngoài ra, còn một điểm đặc biệt khác khiến tôi tin ông bác sĩ này hơn, đó là khả năng hiểu biết về chính trị Việt Nam và Hòa Kỳ của ông.
Đây là những câu hỏi mà tôi dựa vào các tin đồn hay thắc mắc của nhiều người, để tôi nêu ra với ông:
Thuốc chích ngừa bệnh Covid-19 chưa được thử nghiệm đầy đủ hay lâu dài nên đừng dại mà chích vì nó sẽ có hại tức khắc hay lâu dài cho con người.
Vì thuốc chích ngừa không an toàn, nên trong thời gian qua đã có nhiều bác sĩ và y tá tại Hoa Kỳ thà chấp nhận mất việc làm, chứ họ nhất định không chịu chích ngừa
Đã có nhiều người sau khi chích ngừa bị phản ứng phụ thật “thê thảm”, và có nhiều sự tử vong.
Vì vấn đề chính trị nên chính phủ bắt ép người dân phải chích ngừa. Chích ngừa mũi này xong sẽ còn tiếp tục chích nhiều mũi khác nữa.
Đây là những câu trả lời mà ông bác sĩ ấy đã nêu ra từng điểm với tôi:
Chẳng có loại thuốc chích ngừa nào an toàn 100%. Điển hình là Vaccine cho các loại cúm hằng năm (Season Flu) đã được thử nghiệm từ lâu và thử nghiệm liên tục, nhưng nó cũng gây chết người như thường, chứ không riêng gì Vaccine cho vụ cúm Tàu. Vả lại, giữa lợi và hại, cái lợi vẫn cao hơn cái hại thật nhiều. Giả sử, nếu mọi người cứ ngồi chờ thử nghiệm 5-10 năm rồi mới mang ra chích, số người chết làm sao chôn cho kịp? Cho nên, người ta phải chọn cái tốt nhất, tức là chích ngừa vẫn là thượng sách.
Nếu cho rằng thuốc chích ngừa không an toàn, nên có nhiều bác sĩ và y tá thà chấp nhận mất việc làm, chứ họ nhất định không chịu chích ngừa. Đó chỉ là tin đồn có tính cách phóng đại hơn là bằng chứng hiển nhiên. Những bác sĩ, y tá, hoặc nhân viên y tế từ chối chích ngừa và chấp nhận mất việc làm có thể là chuyện thật nhưng vẫn là thiểu số cho những quyết định có tính cách riêng tư hay vấn đề niềm tin tôn giáo mà thôi.
Về những trường hợp chích ngừa gây tử vong là có thật, nhưng sự việc gây chết người này vẫn là một phần trăm ngàn, hay một phần triệu, so với sự an toàn dành cho đại đa số những người chọn chích ngừa.
Tôi chủ trương và khuyến khích mọi người nên chích ngừa, nhưng ép người khác phải chích ngừa là không nên. Đáng lẽ người ta chỉ nên khuyến khích chứ không nên bắt buộc mọi người phải chích ngừa. Chích ngừa không an toàn 100% nhưng nếu có lây bệnh, nó vẫn nhẹ hơn là không chích gì cả. (hết các câu trả lời)
Người viết cũng thăm dò một người bạn khác từng tốt nghiệp đại học tại Hoa Kỳ, có kiến thức tổng quát và kinh nghiệm đời thật đáng kể, và gia đình ông cũng có người là bác sĩ y khoa. Ông dứt khoát khôngchịu chích ngừa cho bất cứ loại bệnh nào cả, nhất là bệnh cúm Tàu. Tôi hỏi lý do tại sao, ông trả lời ngắn gọn, “Tôi tin rằng cơ thể tôi khỏe mạnh nên tôi không cần chích ngừa.”
Sau khi tôi tìm hiểu tại sao có người ủng hộ, có người lại tẩy chay, nhất là chuyện ép buộc người khác phải chích ngừa, khiến tôi nhận ra điều này: Nếu cho rằng, mọi người không chích ngừa, bệnh sẽ lây lan cho nhiều người khác, câu hỏi cần được đặt ra là: Tại sao cúm hằng năm cũng lây lan và cũng giết hằng chục ngàn người mỗi năm tại Hoa Kỳ, nhưng không ai đặt vấn đề “không chích ngừa sẽ tao ra sự lây lan?”
Sự quyết định chích ngừa của tôi đến từ sự suy nghĩ cũng đơn giản thôi: Nếu những bác sĩ y khoa vừa nêu dám chích Vaccine để phòng chống con cúm Tàu, tôi dám chích bởi vì họ có kiến thức về y khoa hơn tôi. Riêng các bác sĩ trẻ, tương lai của họ còn dài hơn tôi, họ không e ngại sự rủi ro, lẽ nào “trâu già này lại nệ dao phay?”
Chưa hết, Tổng Thống Trump giàu có hơn người, nổi tiếng hơn người, vợ đẹp, con ngoan, và mạng sống của ông quan trọng hơn mạng sống của nhiều người. Ông đã dám chích ngừa cúm Tàu, lẽ nào “Thường Dân Nam Bộ” như tôi lại không dám chích? Đành rằng đối với tiêu chuẩn của Thiên Chúa, linh hồn mỗi người đều quan trọng như nhau, nhưng ở dưới trần gian này mạng sống ông tổng thống luôn quan trọng hơn mạng sống của người dân bình thường.
Vẫn chưa hết, xin phép cho tôi thắc mắc: Sau khi cúm Tàu nổi lên vào năm 2019, các loại cúm hằng năm (Season Flu) trốn ở đâu? Cũng không ít người hỏi, “Trung bình có bao nhiêu người chết vì bệnh cúm mỗi năm?” Có nhiều câu hỏi được nhiều người nêu ra rằng, mọi người có thể tự bảo vệ mình khỏi bệnh cúm bằng cách nào? Tiến sĩ Conway nói, “Cách bảo vệ duy nhất mà mọi người có thể nhận được là tiêm phòng và cẩn thận với vi rút đường hô hấp.” Xin xem chi tiết tại link này: https://www.health.com/condition/flu/how-many-people-die-of-the-flu-every-year
Cơ quan CDC cho biết: Bệnh cúm hằng năm (Season Flu) cho giai đoạn 2019-2020 tại Hoa Kỳ, ước tính có khoảng 35 triệu ca bệnh liên quan đến cúm, 16 triệu lượt khám bệnh liên quan đến cúm, 380 ngàn ca nhập viện do cúm, và 20 ngàn ca tử vong do cúm. Xin xem chi tiết tại link này: https://www.cdc.gov/flu/about/burden/2019-2020.html
Theo tổng kết của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) ước tính rằng, trên toàn cầu, bệnh cúm hằng năm giết chết từ 290 ngàn đến 650 ngàn người mỗi năm. Vậy mà không thấy các cơ quan truyền thông nào làm ồn như vụ cúm Tàu.
Tiệc mừng sinh nhật lần thứ 60 của Ông Obama đã có hằng trăm người vui chơi, dạ vũ, mà chẳng ai mang khẩu trang gì cả. Xin xem bằng chứng: https://www.youtube.com/watch?v=xIrrN9NSOAk
Cộng tác viên của Fox News, Joe Concha, cho rằng, cựu Tổng Thống Obama và các đảng viên Đảng Dân Chủ không cần quan tâm đến việc phải làm gương cho người dân về dịch bệnh COVID bởi vì họ biết các cơ quan truyền thông cánh tả sẽ bảo vệ đám người này.
Một người khác bình luận rằng, “Nếu đó là sinh nhật của Tổng Thống Trump, chắc chắn tin đó sẽ xuất hiện liên tục trên mọi kênh truyền hình, và ông sẽ liên tục bị chỉ trích một cách thậm tệ.”
Tiểu Bang Oregon, nơi người viết cư ngụ, nữ Thống Đốc là người của Đảng Dân Chủ. Bà này thay đổi lệnh lạc vèo vèo, nhất là những gì có liên quan đến con cúm Tàu 19. Ở đây dường như cũng khá giống Tiểu Bang California về những lệnh lạc, mà ngay những người hài hòa cũng cho rằng, nó thật quái đản.
Ở Oregon, ai muốn vào nhà hàng phải mang khẩu trang trong lúc xếp hàng để chờ vào bên trong. Ai vào được bên trong rồi thoải mái mở khẩu trang ra, ăn uống, cười đùa, kể cả ca hát, và nhảy đầm thỏa thích cả vài giờ đồng hồ. Ăn uống xong, trước khi rời nhà hàng, mọi người lại phải mang khẩu trang vào để tiến ra cửa. Ai không tuân thủ, kể như phạm luật và nhất là bị những người ủng hộ Đảng Dân Chủ hay những kẻ cuồng chống Trump lên án gay gắt ngay lập tức.
Kết luận Cúm hằng năm (Season Flu) cũng giết nhiều người, nhưng người ta không làm ồn. Thức ăn của Tàu “cực kỳ” nguy hiểm, nhưng hằng ngày nhiều người vẫn cho vào miệng, nhai và nuốt vào dạ dày mà không ngại ngùng gì cả. Người ta cứ cho rằng con cúm Tàu nguy hiểm hơn con cúm hằng năm (Season Flu) nhưng “mắc mớ” gì phải làm lớn chuyện con cúm Tàu mà không nhắc con cúm hằng năm? Tại sao chích ngừa cúm hằng năm được cho là bình thường, còn cúm Tàu phải bàn đến chuyện chính ngừa hay không chích ngừa? Dù vậy, chích ngừa con cúm nào cũng vẫn là thượng sách như đã nói.
Cúm Tàu có làm chết người thật nhưng vẫn không nguy hiểm bằng sự sợ hãi mà kẻ ác gieo vào đầu con người, và chính sự sợ hãi đó mới là thủ phạm giết dần tinh thần lẫn thể chất của chúng ta. Chúng ta cần thận trọng trong mọi sự việc nhưng dứt khoát không dễ dàng cho bọn gian ác hù dọa mình. Đừng ai quên rằng, chủ trương của bọn độc tài gian ác là làm cho người dân luôn sống trong sự sợ hãi để dễ dàng khống chế họ. Ai muốn bị người khác khống chế, cứ tiếp tục sống theo kiểu, cái gì cũng tin, cái gì cũng sợ, và ai nói gì cũng nghe theo, mà không buồn tìm hiểu hay kiểm chứng.
Huỳnh Quốc Bình Ngày 7 Tháng Giêng Năm 2022 E-mail: huynhquocbinh@yahoo.com
Mỗi khi có ai giống lên lời cầu cứu một điều gì cho chính họ hay cho người khác, tôi lập tức nhớ đến lời khuyến cáo sau đây của Kinh Thánh, “Ai bưng tai không khứng nghe tiếng kêu la của người nghèo khổ, người đó cũng sẽ kêu la mà sẽ chẳng có ai đáp lại” (Châm-Ngôn 21:13). Lời khuyến cáo này chắc chắn không chỉ dành cho trường hợp nghèo khổ mà còn là sự hoạn nạn, hay những trường hợp khác.
Trong những ngày qua, người viết thật sự chú ý vào bản tin Anh ngữ và Việt ngữ liên quan đến một gia đình đồng hương Việt Nam tại Thành Phố Portland, Oregon, Hoa Kỳ.
Được biết, bé trai Raiden Phạm chào đời ngày 26 tháng 2 năm 2020 trong một thân thể khỏe mạnh cho đến khi bác sĩ phát giác bé bị mắc chứng bệnh rối loạn hệ di truyền, do UBA5 DISEASE gây ra.
Theo giới thẩm quyền về y khoa cho biết, bệnh này rất hiếm. Khoảng 30% các em bé mắc bệnh này chỉ sống được vài năm sau khi mới sanh ra và số còn lại nếu không được điều trị kịp thời sẽ bị khuyết tật bại xụi tứ chi vĩnh viễn.
Ba mẹ của bé Raiden Phạm là Linda and Tommy Pham kêu gọi sự trợ giúp tài chánh từ những tấm lòng hảo tâm để cứu bé Raiden và những bé khác phải mang chứng bệnh thật hiếm và quái ác này.
Hình: Gia đình Linda and Tommy Pham
Xin bấm vào link này https://gofund.me/2b40cc2d để trợ giúp trực tiếp vào quỹ cứu bé Raiden. Quý vị có thể vào trang nhà này http://www.raidenscience.org “Raiden Science Foundation” để tìm hiểu thêm về căn bệnh có tên gọi UBA5 DISEASE.
Quý vị có thể vào Website: https://chienhuuvnch.com/NEWS/?page_id=2855 để đọc phần tiếng Việt. Người viết đã tìm hiểu về vụ gây quỹ cứu người này và đã đóng góp phần tài chánh nhỏ của gia đình mình như một món quà cuối năm dành cho bé Raiden Phạm. Làm việc này, chúng ta không chỉ duy nhất cứu mạng bé Raiden mà còn góp phần cho việc nghiên cứu y khoa để có thể cứu mạng sống những trẻ em khác trong tương lai.
Chúng tôi tha thiết kêu gọi quý đồng hương xa gần đóng góp chút ít tài chánh vào quỹ nhân đạo này. Nếu vì hoàn cảnh, quý vị không thể tiếp trợ tài chánh, chúng tôi xin quý vị dành cho bé Raiden một lời cầu nguyện và vui lòng giúp chuyển bài viết này đến nhiều người khác.
Huỳnh Quốc Bình Ngày 30 tháng 12 năm 2021 E-mail: huynhquocbinh@yahoo.com
Tìm Hiểu Thêm Về UBA5 Disease
Hội chứng bệnh gây bởi UBA5, được giới y học xác định là chứng bệnh rối loạn hệ di truyền, UBA5 DISEASE. Bệnh này rất hiếm. 30% các em bé mắc bệnh này chì sống được vài năm sau khi mới sanh ra. Nếu không được điều trị sẽ bị khuyết tật bại xụi tứ chi vĩnh viễn, kể cả hệ thống tiêu hóa.
Không phải giới y học bó tay trước bệnh UBA5 nhưng vì bệnh này thuộc loại bệnh cực hiếm (Rare disease). Trên thế giới chỉ có khoảng 30 trẻ sơ sinh mắc phải. Vì số bệnh nhân qúa ít nên giới Y học không quan tâm nghiên cứu phương pháp trị liệu. Họ chỉ tập trung nghiên cứu và trị liệu các chứng bại não khác của trẻ sơ sinh có tỷ số mắc bệnh cao hơn.
Chúng tôi hy vọng vào sự tiến bộ vượt bậc về ‘GEN DI TRUYỀN’ của y khoa ngày nay, nên đã liên kết với một số gia đình có trẻ sơ sanh mắc chứng bệnh này để thành lập một tổ chức phi lợi nhuận: “RAIDEN SCIENCE FOUDATION” (viết tắt ‘RSF’) tại tiểu bang Oregon và đang phối họp với Đại học Massachusetts để phát triển một chương trình tìm kiếm liệu pháp GEN điều trị cho UBA5 disease.
Chúng tôi hy vọng không những trị liệu cho UBA5, còn muốn đi xa hơn đạt được những đột phá về y học của liệu pháp ‘GEN’ có thể giúp hàng triệu trẻ em khác mắc các bệnh hiếm lạ trên khắp thế giới. Thành viên của tổ chức “Raiden Science Foundation” gồm nhiều nhà y học và các sĩ chuyên khoa. Đặc biệt có DR. CIECHANOVER, nhà Khoa Học đã lãnh giải Nobel Hóa Học năm 2004, ông hiện là thành viên trong ủy ban Cố vấn Khoa học của tổ chức chúng tôi: https://www.raidenscience.org/about
Tuy nhiên, nếu không có sự giúp đở của qúy ân nhân, mạnh thường quân và qúy vị thì mục đích của tổ chức chúng tôi không có phương tiện tài chánh để thực hiện – WITH YOUR HELP, WE CAN TURN HOPE INTO REALITY.
Tìm hiểu thêm về bệnh ‘UBA5 disease’ và mục đích – nhiệm vụ của chúng tôi, xin vào website: http://www.raidenscience.org Cám ơn sự quan tâm và giúp đở của qúy vị. Và vui lòng phổ biến rộng rãi thông tin này đến bạn bè, thân hữu. Đa Tạ. Phạm Quốc Nam (Webmaster) (Vận động viên gây qũy)
… Con cháu nào biết dành thì giờ hỏi han cha mẹ, ông bà, và chịu khó lắng nghe những “tâm sự” của các cao niên, mới thật sự là những món quà vô giá mà mình muốn dành cho các vị ấy trong những mùa lễ lớn…
Đề cập đến việc quà cáp, người ta dễ dàng chú ý đến những gì có tính cách vật chất hơn là tinh thần. Thực chất cho thấy, các món quà tinh thần thường mang nhiều ý nghĩa sâu đậm hơn vật chất. Nói như vậy không có nghĩa là người đang đói rét có thể no lòng, hay ấm áp bởi những lời hỏi thăm theo kiểu lấy lệ, hoặc chúc lành theo kiểu thiêng liêng, như Thánh Kinh đã khuyến cáo trong sách Gia Cơ 2:16b, “Hãy đi cho bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác, thì có ích gì chăng?”
Vào những ngày lễ lớn, người ta thường “đau đầu” vì không biết là mua quà gì tặng cho người thân, hay bằng hữu mà có ý nghĩa nhất. Cho nên, ở trên mạng lưới toàn cầu (Internet) có nhiều bài viết liên quan đến việc tặng quà. Nào là: Tặng quà cho bố mẹ bạn gái như thế nào? Chọn quà Tết cho bố mẹ vợ như thế nào để thể hiện thành ý của con rể? Quà biếu bố mẹ chồng nên chọn như thế nào cho ý nghĩa? Đau đầu chọn quà Tết cho bố mẹ vợ? Mua quà gì biếu Tết bố mẹ chồng và bên nội, bên ngoại xa gần của nhà chồng? Vậy mà tôi lại ít thấy, hay không thấy người ta đề cập đến việc tặng quà cho cha mẹ ruột, hay ông bà của mình.
Người Việt mình có câu, “Của cho không bằng cách cho”. Cho nên, việc tặng quà cho người trên trước mà không đủ khéo léo, có khi đã tốn kém về vật chất nhưng còn bị tổn thương về tình cảm, chứ không phải chuyện tầm thường. Tôi đã từng học những bài học để đời chỉ vì mình nghĩ ai cũng dễ tính hay đơn giãn giống như mình. Nghĩ theo nghĩa tích cực; dù sao, đó cũng là cơ hội để tôi “học khôn”. Dù vậy, khổ nỗi, “Không có cái dại nào giống cái dại nào”, như các cụ đã nói.
Vợ chồng tôi có quen một bà Mỹ. Bà “than phiền” rằng, ngày lễ Mừng Chúa Giáng Sinh đã gần kề rồi mà không biết mua quà gì cho mẹ của bà. Bà hỏi chúng tôi có ý kiến gì không. Tôi mách với bà là hãy tặng cho mẹ bà “Một cuộc thăm viếng”. Bà cười khi nghe tôi nói có vẻ khôi hài như thế, và bà cho biết rằng mẹ của bà ở tận bên miền Đông Hoa Kỳ, còn bà đang ở miền Tây nên việc thăm viếng rất tốn kém. Nghe bà nói xong, tôi liền suy nghĩ và cũng có sự thông cảm. Bà ngại tốn kém cũng phải, bởi với cái nhà gần mười phòng ở vùng Lake Oswego, đây là khu vực sang trọng dành cho dân nhà giàu, của Tiểu Bang Oregon, bà trả tiền hằng tháng cho nhà băng cũng đủ để “tắt thở”. Theo lời tâm tình của bà, cứ một năm, hoặc hai năm bà mới thăm viếng mẹ được một lần. Tôi nói, “Nếu không thăm viếng được, bà nên thường xuyên gọi hỏi thăm, trò truyện cũng là đáng quý”. Bà đã nói lời cảm ơn về sự khích lệ đó của chúng tôi.
Sở dĩ tôi mách cho bà bạn Mỹ như thế là vì tôi cũng thường nhắc những người bạn thân hay quen thân của tôi, gồm những người mà tôi cho là họ thật có phước, bởi ông bà hay cha mẹ còn sống. Tôi nhắc khéo họ, hãy thường xuyên thăm viếng ông bà, cha mẹ nếu mình không may phải sống xa cách họ. Đừng chờ sau khi họ qua đời, hay không còn biết gì nữa rồi mới đến thăm viếng. Đừng chờ khi họ qua đời rồi mới tham dự tang lễ với lời than khóc muộn màng.
Tôi tin rằng những ai đang ở vị trí ông bà, cha mẹ, rất cần con cháu thăm viếng hay hỏi han hơn là chờ đợi những món quà về mặt vật chất. Tâm lý cho thấy, người cao niên được ai hỏi han, thăm viếng, và chịu khó ngồi nghe họ nhắc chuyện dĩ vãng, họ vui lắm. Thông thường, các con cháu, hay người trẻ tỏ ra bực dọc vì ông bà và cha mẹ của họ cứ thích nhắc chuyện quá khứ. Nghĩ cho cùng, người trẻ còn có hiện tại và tương lai. Riêng các cao niên với một quá khứ dù u ám, hay vàng son đã qua nhưng hiện tại “mịt mù”, còn tương lai “đen tối”, làm sao chúng ta có thể không cho họ có quyền tiếc nuối hay thích nhắc chuyện đã qua.
Dù tôi không phải là thành phần “ăn không ngồi rồi” trong xã hội nhưng nếu có cao niên nào muốn kể cho tôi nghe chuyện quá khứ của họ, tôi sẵn sàng nghiêm chỉnh ngồi nghe. Tôi từng ngồi hằng giờ để trực tiếp nghe, hay nghe qua điện thoại về quá khứ của những cao niên mà tôi quen biết. Tôi thích nghe để học hỏi, và tôi cũng muốn nhân cơ hội đó tặng cho họ một món quà tinh thần mà tôi cho là “vô giá”. Món quà đó là lắng nghe người cao niên tâm sự chuyện đời của họ.
Cao niên nào còn đủ đôi, đủ cặp, cho dù không có con cháu ở gần, hay ở cùng cũng còn đỡ khổ, bởi “bên em đã có anh”, hay “bên anh cũng còn có em”. Đối với ông bà cụ nào mà người bạn đời đã lìa trần, còn nỗi cô đơn nào khủng khiếp hơn? Cho nên, con cái mà biết dành thì giờ thăm viếng ông bà, cha mẹ, tức là họ đã “tiêm thuốc bổ” cho các vị ấy, chứ không chỉ là những cuộc thăm viếng bình thường, hay tầm thường.
Con cháu nào biết nhớ đến ông bà, cha mẹ mà mang quà đến tặng trong những lần thăm viếng là chuyện đáng khen. Đáng khen hơn, nếu họ biết dành thì giờ hỏi han cha mẹ, ông bà, và nhất là chịu khó lắng nghe những “tâm sự” của người cao niên, mới thật sự là những người con, hay cháu có lòng hiếu thảo.
Trong bài viết, “Thái Độ Tạ Ơn” tôi có đề cập rằng: Không ít người trong chúng ta cũng nhân thời điểm “Lễ Tạ Ơn” để tổ chức những bữa tiệc linh đình hầu “Tạ ơn Chúa”, hay “Nhớ ơn Người”, nhưng thực chất, tinh thần biết ơn không mấy đúng nghĩa. Cũng có thể trong thời điểm chúng ta đang ăn uống no say, ông bà, cha mẹ của của chúng ta đang ở một xó nào đó mà chúng ta không còn nhớ tới. Hay là, họ đang nằm liệt giường trong bệnh viện, hoặc đang ngồi gục gặc, ngoẻo đầu trên chiếc xe lăn trong các viện dưỡng lão, mà con cháu vì bận tố chức “Tạ ơn Trời”, hay “Cảm ơn Người” nên không còn thì giờ để ghé tạt vào thăm. Hoặc, những người mà chúng ta từng thọ ơn họ một cách trực tiếp, hay gián tiếp đã không còn trong trí nhớ của chúng ta chỉ vì chúng ta đang bận tổ chức những buổi “Tạ ơn Trời”, hay “Nhớ ơn người”.
Khi tôi đề cập đến điều này rất dễ cho những ai không làm được điều tôi vừa đề cập, có nhiều lý cớ để biện minh. Họ có thể nói rằng, ở hải ngoại này ai cũng bận rộn đủ mọi thứ chuyện, chứ đâu phải giống bên Việt Nam. Hoặc, ai có thì giờ đâu mà thăm viếng thường xuyên, hay ngồi đó mà nghe chuyện “vô bổ” của đời xưa?
Nếu độc giả nào có phước, ông bà cha mẹ còn sống như tôi đã nói, mà đọc đến đây nhưng lại không tin những gì tôi nói. Xin quý vị chịu khó cắt bài báo này rất giữ. Quý vị chờ sau khi ông bà, hay cha mẹ của mình qua đời, quý vị sẽ cảm được những gì tôi đề cập hôm nay.
Trở lại chuyện quà cáp. Một ông bạn thân của tôi cho biết, năm nào vào ngày Tết Nguyên Đán, vợ chồng ông cũng nhắc các con mua quà tặng cho bên chồng hay bên vợ của chúng nó. Một ông bạn khác có hai cô con gái, vợ chồng ông cũng hay nhắc con mình phải thường xuyên thăm viếng nhà chồng và nhớ mua quà Tết cho nhà chồng. Bởi đó là lễ nghĩa và văn hóa của người Á Đông, hay của người Việt chúng ta. Vợ chồng ông giải thích rằng, quà cáp không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà còn mang nặng về mặt tinh thần, lễ nghĩa, và yêu thương trong đó.
Trước khi chấm dứt bài viết này, tôi muốn kể cho quý độc giả nghe một câu chuyện thật 100%. Có lần tôi vào thăm một người bạn thân đang ở trong “Nursing home” tại miền Nam California. Nhìn Cụ Bà Việt Nam tuổi ngoài tám mươi đang ngồi trên xe lăn, nên tôi đến gần chào hỏi.
Sau đây là mẫu đối thoại giữa tôi và cụ: “Cụ ở trong này được bao lâu rồi?” Tôi hỏi. “Tôi ở đây khoảng ba bốn năm rồi.” Cụ trả lời. “Trông cụ còn minh mẫn quá mà tại sao phải vào đây? Chắc là cụ không có con cháu ở gần phải không?” Tôi dồn dập hỏi thêm và Bà Cụ trả lời: “Các gia đình con cháu tôi ở trong thành phố này. Gần lắm, chỉ cần năm mười phút lái xe thôi. Tôi bị tai biến, nên bị liệt nửa thân người. Tôi không còn khả năng tự lo vấn đề vệ sinh cá nhân nên các con tôi phải đưa tôi vào đây”.
Vì thấy cụ thân thiện và cởi mở, nên tôi nói tiếp những lời khích lệ, “Cụ còn có phước hơn nhiều người lắm bởi các con của cụ ở gần, các anh chị ấy vào thăm viếng cụ dễ dàng hơn.”
Nói xong câu nói đó tôi mới thấy mình bị hố bởi tôi đã vô tình gây xúc động cho vị cao niên đáng thương này. Bằng gương mặt buồn thảm và nước mắt lưng tròng, cụ đã nói với tôi trong nghẹn ngào, “Vâng, tôi biết mình có phước hơn những người không có con cái ở gần. Dù sao, các con tôi mỗi năm chúng nó cũng vào thăm tôi vài lần trong những ngày lễ lớn.”
Tôi từng đọc một bài báo nói về một phụ nữ khoảng 65 tuổi, bị tai biến mạch máu não nên không còn đi đứng và nói năng gì cả. Được biết cách đó 26 năm, hai vợ chồng bà cùng sáu đứa con di cư sang Mỹ. Cũng giống như mọi người, họ bắt đầu lại từ đầu, làm đủ thứ nghề để mong sao con cái được ăn học nên người. Thời gian qua mau, các con của họ đã thành đạt, có nhà cao cửa rộng. Thời điểm đó, chồng bà phát hiện bị ung thư gan, nên quyết định về hưu sớm, bán hết nhà cửa, xe cộ, gom hết tiền bạc dọn về ở gần với sáu đứa con. Tiền bạc chia cho các con giữ hết. Chồng đã qua đời vì bệnh ung thư ở thời kỳ cuối. Bà cũng bị tai biến mạch máu não và được đưa vào nhà dưỡng lão từ đó tới bây giờ. Sau đó vài tháng, bà bị nhà dưỡng lão từ chối không nhận bà nữa nên đề nghị các con bà đem bà về nhà chăm sóc. Các con bà đều từ chối với lý do bận đi làm, không có thời gian chăm sóc mẹ. Điều “thê thảm” nhất khi bà bị Medical từ chối, bởi cơ quan chính phủ có bằng chứng là bà từng có tài sản do chồng bà để lại dưới tên của bà ấy. Thực chất, tài sản đó đang nằm trong tay các con của bà. Đây là câu chuyện thật trớ trêu. Một người làm việc vất vả cả đời, nuôi đàn con khôn lớn nên người, mong về già để được thảnh thơi. Vậy mà giờ đây, nhà của các con cháu không về ở được, mang tiếng có tiền mà không xài được, uất ức trong lòng nói cũng không xong.
Không biết người đàn bà đáng thương này nằm trong viện dưỡng lão có được con cháu vào thăm viếng không, hay là vì quá bận nên con cháu của bà không thể vào thăm bà được, như đã nói?
Tôi xin quý độc giả giúp cho tôi phần kết luận, chứ tôi không còn ý gì để viết tiếp.