Audio: Cạp Đất Mà Ăn

Bài giảng 25 phút
Đề tài: Cạp đất mà ăn
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

Eat Clay

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Bà Mục Sư!

Bà Mục Sư!

Huỳnh Quốc Bình

Làm vợ mục sư là phải nết na, ý tứ, phải có đời sống thật giản dị, và thật vén khéo, chứ không thể tầm thường.

***

Tôi từng nghe dư luận dè bỉu một số phụ nữ làm vợ các vị mục sư hay giáo sĩ Tin Lành, về ba chữ “Bà Mục Sư”. Họ nói, “Bà ấy là vợ mục sư chứ đâu phải là mục sư mà tại sao để cho người khác gọi mình là bà mục sư?” Tôi nghĩ, họ có lý do để phê bình điều mà họ cho là bất thường.

Trước khi lạm bàn về ba chữ “Bà Mục Sư”, xin cho tôi được thưa rằng: Không ai có thể cấm, hoặc ngăn cản, hay bắt người khác gọi mình là gì dù là cách gọi tôn trọng hay thiếu tôn trọng. Riêng chuyện người ta thắc mắc: Tại sao một người phụ nữ, chỉ là vợ ông mục sư, mà được gọi là bà mục sư? Tôi hiểu, và tôi rất thông cảm cho sự thắc mắc đó.

Trong các giáo phái (denominations) của Tin Lành, có những giáo phái KHÔNG chấp nhận người nữ làm “mục sư”, có nghĩa là người nữ không được phép giảng dạy với chức vụ mục sư. Trái lại, một số giáo phái tấn phong chức vụ mục sư cho phái nữ. Cả hai phía đều lấy lời Thánh Kinh ra để dẫn giải và hậu thuẫn cho quyết định của mình. Bài viết này không dành để bàn về về vấn đề phái nữ có nên giữ chức mục sư hay không, nhưng để người viết nêu ra một số điểm tích cực và tiêu cực, liên quan đến những phụ nữ Việt Nam, từng được, hay bị người khác gọi là “Bà Mục Sư”.

Trong sinh hoạt xã hội, người phối ngẫu của những vị có các chức vụ như: Luật sư, giáo sư, bác sĩ y khoa, nha sĩ, dược sĩ, thị trưởng thành phố, tỉnh trưởng, và tổng thống không thể nào được gọi theo danh xưng hay chức vụ của người phối ngẫu bởi vì họ không phải là người được phép làm các công việc đó. Nếu có, họ chỉ là người giúp chồng mình, hay vợ mình về mặt tinh thần, để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của họ. Riêng vợ của các mục sư và giáo sĩ hoàn  toàn khác.

Như đã nói, không ai gọi vợ hay chồng của một bác sĩ y khoa là “bà bác sĩ” hay “ông bác sĩ”, bởi thực tế những người đó không có thẩm quyền chữa bệnh cho người khác. Cùng một ý niệm đó, không ai gọi vợ thị trưởng thành phố, vợ của tỉnh trưởng, hay vợ của tổng thống là “bà thị trưởng”, “bà tỉnh trưởng”, hay “bà tổng thống”. Nếu có ai gọi như thế, đó chỉ là lối gọi theo kiểu lấy lòng, hay nịnh bợ những người có chức quyền trong xã hội. Điều này cũng hết sức lố bịch nếu có ai hài lòng khi người khác gọi mình như vậy.

Trong các tôn giáo, chỉ có Đạo Tin Lành mới có biệt danh “Bà Mục Sư”. Lý do, chỉ có mục sư hay giáo sĩ Tin Lành mới được phép lấy vợ, hoặc chọn ở độc thân, theo lời Thánh Kinh. Sách I Cô-rinh-tô 7:8-9 đã chép lời của Sứ Đồ Phao-lô, “Tôi nói với những người còn độc thân và những quả phụ rằng, nếu ở được như tôi thì tốt. Nhưng nếu họ không thể tiết chế được thì nên lập gia đình, vì thà lập gia đình còn hơn bị dục tình un đốt. (bản dịch VIE2010)

Như đã nói, vì mục sư hay giáo sĩ Tin Lành được lập gia đình một cách công khai và tự nhiên, cho nên mới có danh xưng “Bà Mục Sư”, ra đời. Ngoài ra, người viết chưa thấy một mục sư nào được mời làm mục sư quản nhiệm, hay lãnh đạo những tập hợp được gọi là Hội Thánh Chúa, mà người đó chưa có vợ. Cũng trong trong Đạo Tin Lành, khi cấp lãnh đạo tấn phong (ordain) hay chỉ định (appoint) chức vụ mục sư, hoặc giáo sĩ cho người nào đó, người phối ngẫu của người đó cũng phải học để hiểu biết lời của Thánh Kinh, cũng phải cùng quỳ gối, để mọi người đặt tay cầu nguyện khi họ nhận lãnh trọng trách thiêng liêng đó. Nói một cách khác, chỉ có vợ của mục sư, hay vợ của giáo sĩ, mới có thể cùng chồng làm hầu hết những công việc của mục sư hay công việc của giáo sĩ.

Tôi được biết một mục sư Việt Nam tại Hoa Kỳ, sau khi ra trường, ông cùng vợ con tình nguyện đến một vùng rất ít người Việt, và cũng không có Hội Thánh (Nhà Thờ Tin Lành) Việt Nam, để chăm sóc tín hữu hay rao giảng về sự cứu rỗi của Chúa. Tôi thật sự thán phục sự dấn thân của ông mục sư, nhưng tôi thán phục “Khúc Xương Sườn” của ông gấp bội. Ông bà khởi đầu gầy dựng Hội Thánh bằng một nhóm nhỏ, gồm mấy người con của ông bà còn ở bậc tiểu học và vài gia đình tín hữu không có nơi thờ phượng Chúa. Nhóm tín hữu ấy cùng với gia đình ông mục sư không quá mười người. Ông mục sư và vợ ông bắt đầu mục vụ bằng cách tiếp xúc với những người Việt Nam trong vùng để làm chứng đạo, tức là nói về sự cứu rỗi của Thiên Chúa dành cho những ai đầu phục Ngài. (1)

Sau thời gian bốn năm năm, kể từ ngày ông mục sư nêu trên bắt đầu thành lập Hội Thánh Chúa, số thành viên tăng trưởng đáng khích lệ, tức là có thêm nhiều người tiếp nhận Chúa. Hằng tuần họ đến thờ lạy Chúa và sinh hoạt hài hòa, vui vẻ, yêu thương những người trong Hội Thánh như một gia đình. Rất tiếc, thời gian sau đó, có người đến nhưng cũng có người đi bởi vì nơi ông mục sư chọn khởi đầu chức vụ tại một thành phố không mấy phồn thịnh về vật chất. Điều này có ảnh hưởng đến số thành viên của Hội Thánh bởi nhiều người di chuyển qua những tiểu bang ấm hơn, khí hậu ôn hòa hơn, đông người Việt hơn, và công ăn việc làm dễ tìm hơn. Cuối cùng, số thành viên trong Hội Thánh bị giảm sút trầm trọng. Ông mục sư nhìn vợ mình cực nhọc trong công việc Hội Thánh Chúa và công việc làm “kiếm cơm” để có đủ tài chánh cho chồng an tâm hầu việc Chúa mà ái ngại. Ông mục sư thấy Hội Thánh không phát triển mà trái lại số thành viên ngày càng giảm sút nên ông có ý định “bỏ chạy”. Ông bàn với bà là nên tìm thành phố khác có đông người Việt hơn. Thực tế, có một Hội Thánh ở vùng nắng ấm đang cần mục sư, họ có ý mời ông làm mục sư quản nhiệm. Ông thố lộ với bà về ý định “di tản” qua vùng đất “mầu mỡ” hơn. Ông đinh ninh trong lòng là khi ông bày tỏ ý định đó, bà sẽ đồng tình với ông, nhưng bà hỏi ông rằng:

 – Nếu mình bỏ đi, ai sẽ là người chăm sóc tinh thần, ai giảng dạy Thánh Kinh cho những gia đình tín hữu còn ở lại?

Ông mục sư hỏi ngược lại bà:

– Mọi người di chuyển qua tiểu bang khác gần hết rồi, anh ở lại giảng cho ai nghe?

Bà trả lời không cần suy nghĩ:

– Em và các con sẽ nghe, các tín hữu còn ở lại sẽ nghe, và nhất là Chúa sẽ nghe anh giảng.

Nghe vợ nói quyết liệt như thế nên ông mục sư đã “tỉnh thức”. Ông tiếp tục chọn “con đường hẹp” và bỏ ý định tìm “những con đường rộng thênh thang” mà Thánh Kinh đã khuyến cáo, “Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít” (Ma-thi-ơ 7:13-14).

Trong trường hợp nêu trên, người nữ mà tôi đề cập, có xứng đáng nhận danh xưng “Bà Mục Sư” hay không? Chắc chắn là vô cùng xứng đáng. Người viết dám bảo đảm rằng, ngoài đời, ngay từ đầu, nếu là “bà bác sĩ”, “bà nha sĩ”, “bà kỹ sư”, “bà luật sư”, “bà dược sĩ”, “bà thị trưởng”, hay “bà tỉnh trưởng” sẽ bảo chồng mình, hay đòi cho bằng được chồng mình phải tìm nơi có tương lai tốt hơn cho gia đình. Họ phải chọn nơi nào có thể đạt địa vị cao hơn, lương cao hơn, khí hậu ấm hơn, và nhất là dễ cho những phụ nữ chưng diện hơn chứ dại gì chọn cái nơi mà “đường hoạn lộ” hay quyền lợi vật chất của chồng mình nhỏ hẹp như thế?

Khi viết đến đây, tôi xin cúi đầu tạ ơn Chúa bởi Ngài cho tôi học được hay biết được một tấm gương hầu việc Chúa một cách trung tín của một trong nhiều phụ nữ, mà mọi người gọi là “Bà Mục Sư”. Tôi cũng tin rằng bà mục sư nêu trên đã thấm nhuần lời khuyến cáo này của Thánh Kinh, “Hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi” (2 Ti-mô-thê 4:2).

Một trường hợp khác. Vợ của một giáo sĩ Việt Nam cùng chồng khởi đầu chức vụ với một Hội Thánh chỉ có ba người, gồm ông, bà, và cô con gái mới bước vào bậc trung học. Bà cùng chồng làm việc toàn thời gian để sinh sống và làm các mục vụ. Ông bà không nhận sự trợ cấp từ giáo hội trung ương hay địa phương. Nhược điểm của bà là không dạn dĩ nói chuyện hay cầu nguyện trước công chúng, không giảng dạy Thánh Kinh cho tín hữu, giống như một số bà vợ mục sư hay giáo sĩ khác. Ưu điểm của bà là làm việc siêng năng, kín miệng, hiền hòa, và có đời sống giản dị. Bà sẵn sàng hỗ trợ chồng trong các công việc theo tinh thần của người vợ biết “tuân phục chồng” mà Kinh Thánh đã dạy trong sách Ê-phê-sô 5:22-33. Bà chăm lo việc nhà và việc của Hội Thánh để chồng bà có thể bôn ba gầy dựng các điểm nhóm, thờ phượng Chúa. Bà chấp nhận cuộc sống “cô đơn” khi chồng xa nhà làm mục vụ và giảng về sự cứu rỗi của Chúa cho đồng hương Việt Nam tại Hoa Kỳ, kể cả ngoại quốc. Bà luôn hỗ trợ chồng làm nhiều công việc xã hội, không lương, và cũng “không tên”. Những buổi tổ chức họp mặt trong trong Hội Thánh, không ai thấy bà, và những người phụ nữ mà bà gọi là “cánh tay mặt” hay “những cánh tay đắc lực” của bà lên bàn hay lên mâm, ăn tiệc với mọi người. Nếu để ý, người ta chỉ thấy bà ở trong nhà bếp hoặc phía sau hội trường để cùng một số người khác cật lực giúp chồng bà hoàn thành tốt các mục vụ. Bà thích làm các công việc của “Bà Mục Sư” nhưng không mong chờ ai trân trọng gọi bà là “Bà Mục Sư”.

Dĩ nhiên, hai trường hợp trên chỉ là hình ảnh tiêu biểu cho những bà vợ của mục sư hay giáo sĩ Việt Nam mà tôi từng biết qua. Người viết có kinh nghiệm hay có nhiều kỷ niệm với một số “Bà Mục Sư” mà mình từng xem như mẹ hay bà chị cả trong gia đình. Những hình ảnh của những bà mục sư mà tôi từng là tín hữu nơi chồng quý bà làm mục sư quản nhiệm, gồm những người đàn mà có đời sống mẫu mực, giản dị, và hết sức kín miệng. Làm sao tôi viết? Người ta kể cho quý bà nghe “những tin đồn” vô cùng hấp dẫn, dễ tin, nhưng KHÔNG có thật để người ta thử xem nhân cách và sự kín miệng của các bà thế nào? Kết quả, những tin đồn đó đã đi vào hư không, hay phải “chết từ trong trứng nước”.

Có ít nhất một bà mục sư Việt Nam, từng cư tại vùng Bắc California đã về với Chúa. Tôi từng xem bà như mẹ. Hơn thập niên trước đây lúc bà còn khỏe mạnh, tôi thường gọi hỏi thăm và thỉnh thoảng xin bà cố vấn cho những việc tế nhị, quan trọng bởi vì tôi tin rằng bà có nhiều kinh nghiệm trong đời sống và trong chức vụ của chồng. Tôi cũng tin rằng những gì tôi tiết lộ với bà, bà thường dựa vào những lời dạy căn bản của Thánh Kinh để cố vấn và sau đó không ai biết tôi đã nói gì với bà. Với tư cách hay nhân cách của những người phụ nữ như thế, chẳng lẽ người ta gọi là Bà Mục Sư quá đáng lắm hay sao?

Hình ảnh của các bà mục sư đúng nghĩa sẽ hoàn toàn ngược lại với câu nói đùa trong nhân gian “vợ biết là chợ biết”. Vai trò của người vợ mục sư phải là người kín miệng và tuân phục chồng. Bà mục sư không thể là người thích ngồi lê đôi mách. Bà mục sư không thể là người thích lấn lướt chồng. Bà mục sư phải là “bà mẹ ruột” đối với tín hữu mà chồng mình có trách nhiệm chăm sóc về phần thuộc linh, chứ không phải loại mẹ mìn trong xã hội. Bà mục sư phải là người hiền hòa, mềm mại, nhịn nhục, và nhân từ. Bà mục sư không phải là những người thuộc loại thượng đội hạ đạp, hay trọng phú khinh bần, hoặc thích “ăn miếng trả miếng” với mọi người. Bà mục sư không thể là người ham mê vật chất. Bà mục sư không thể là kẻ dối trá được che đậy bằng các mỹ từ. Bà mục sư không thể là người chỉ thích được gọi là “bà mục sư” mà không chú trọng đến nhân cách của chính mình và giữ uy tín cho chồng. Bà mục sư không thể nào là người lãnh đạo ông mục sư và những người trong Hội Thánh. Bà mục sư phải là người bền lòng cầu nguyện cho chồng, cho mọi người, và đặc biệt là phải có lòng quan tâm đến hạnh phúc của người khác, nhất là những người trong Hội Thánh trong tinh thần yêu thương thật sự. Bà mục sư phải có cùng một tâm tình với ông mục sư, chồng mình, giống như lời dạy của Thánh Kinh, “Lòng yêu thương phải cho thành thật. Hãy gớm sự dữ mà mến sự lành. Hãy lấy lòng yêu thương mềm mại mà yêu nhau như anh em; hãy lấy lẽ kính nhường nhau. Hãy siêng năng mà chớ làm biếng; phải có lòng sốt sắng; phải hầu việc Chúa. Hãy vui mừng trong sự trông cậy, nhịn nhục trong sự hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện. Hãy cung cấp sự cần dùng cho các thánh đồ; hãy ân cần tiếp khách” (Rô-ma 12:9-13).

Tôi có thể liên tưởng hình ảnh các bà vợ của các vị mục sư, hay giáo sĩ giống như các bà vợ lính cùng chồng đóng đồn. Quý bà không có số quân, không được lãnh lương, nhưng thường phải cùng chồng hứng chịu các thứ tên đạn vô tình vụt đến một cách thật “nhẫn tâm”. Tôi rất trân trọng vai trò của các bà vợ của các vị mục sư, hay vợ giáo sĩ, cùng chồng thi hành chức vụ, hay làm những công việc “không giống ai” mà những người đàn bà ở ngoài đời không bao giờ thích.

Tôi được biết ở Việt Nam vào thập niên 60, phụ nữ nào khi chọn làm vợ mục sư, tức là người đó tự đặt mình vào vị trí giống y như một nữ tu, chứ không còn là người nữ bình thường trong xã hội. Làm vợ mục sư là phải nết na, ý tứ, phải có đời sống thật giản dị, và thật vén khéo, chứ không thể tầm thường. Bà mục sư trẻ tuổi nào “lỡ dại” muốn làm đẹp bằng cách kẽ mắt, đánh chút má hồng, hoặc thoa chút môi son cũng đã bị lên án. Không phải người ngoài đời lên án, mà người trong giáo hội lên án. Các bà không được đi làm việc ngoài đời để kiếm thêm tiền, mà phải sát cánh với chồng trong chức vụ, phải chấp nhận đồng lương rất giới hạn dành cho chức vụ mục sư.

Ngày nay “tiêu chuẩn” dành cho mục sư hay vợ của mục sư cũng có phần “dễ thở” hơn ngày xưa, nhưng cũng không thể vượt quá giới hạn dành cho vị trí mục sư, giáo sĩ và người phối ngẫu của mình, mà những điều đó được chép bàn bạc trong Thánh Kinh. Nếu có ai thấy hay có bằng chứng ông, hay bà mục sư, ông, hay bà giáo sĩ nào tham lam vật chất, nhân cách quá tệ, đó không phải là mục sư hay giáo sĩ đích thực mà tôi muốn đề cập trong bài viết này.

Viết đến đây, thiết nghĩ tôi cần nói về “bà mục sư” của tôi, mới có sự “công bằng”. Trong vai trò làm vợ, Bà Nhà Tôi luôn thể hiện đúng câu nói của người xưa, “Phu Xướng Phụ Tùy” cho dù tôi chỉ là một thanh niên trưởng thành trong một gia đình bình dân, không thể có đầu óc phong kiến. Bà là người vợ rất đáng yêu của tôi và người mẹ đáng kính của con tôi. Bà rất thích mọi người gọi bà bằng tên, hoặc “Chị B”, “Cô B” hoặc “Bà B”. Những đức tín còn lại liên quan đến bà, tôi xin phép nhường cho những ai từng quen biết với tôi nhận xét về bà sẽ chính xác hơn, và cũng để tôi cũng không bị mang tiếng là “văn mình, vợ mình”

Kết luận

Vợ chồng tôi chưa bao giờ nhận sự trợ cấp hay tiền lương khi làm mục vụ trong vai trò của một giáo sĩ. Chúng tôi rất hài lòng với những gì Chúa ban cho trong đời sống, bằng nghề chuyên môn của mình.

Tôi có thể quả quyết điều này mà không sợ sai. Ở những nơi gọi là “Hội Thánh Tin Lành Việt Nam” nếu không có những bà mục sư đáng kính, làm việc cực nhọc, cầu nguyện cho chức vụ của chồng, có đời sống gương mẫu, an ủi giúp đỡ những tín hữu ngã lòng, quan tâm đến những người già yếu bệnh tật, quý ông mục sư sẽ phải “chiến đấu đơn độc”. Nếu không có quý bà mục sư yêu thương những trẻ em côi cút, nâng đỡ những người đàn bà goá bụa trong Hội Thánh, và nhất là không nản lòng khi phải tạo tài chánh cho gia đình sinh sống, hầu cho chồng mình an tâm chu toàn nhiệm vụ của một mục sư, đâu có ai thèm gọi quý bà là bà mục sư. Nếu không có quý bà mục sư thật lòng kính Chúa yêu người, sát cánh với chồng mình, ngoài một số mục sư thuộc vài giáo phái có khả năng tài chánh, được sự hỗ trợ của trung ương, hầu hết các mục sư Việt Nam còn lại từ trong nước ra đến hải ngoại, cho dù có “ba đầu, sáu tay” cũng khó hoàn thành tốt nhiệm vụ Chúa giao, với số tiền trợ cấp “chết đói” từ những thành viên trong Hội Thánh.

Tại sao những tín hữu biết quan tâm đến đời sống tiện nghi cho mình, nhưng khi quyết định tiền trợ cấp hay cung lương cho mục sư, lại luôn giữ đúng tinh thần “tiền ra như máu chảy”? Có phải mình muốn mục sư của mình phải giữ cho được sự “thiêng liêng” bằng đời sống thiếu thốn, để cho quý bà mục sư phải “gánh cả giang san nhà chồng”? Người viết xin nhường câu trả lời cho những ai đọc bài viết này và xin bày tỏ lòng kính trọng và sự tôn trọng dành cho quý “Bà Mục Sư”.

Huỳnh Quốc Bình

Viết ngày 6, Tháng Tám, 2021. Cập nhật ngày 17,  Tháng Chín, 2025

Email: binhquochuynh@aol.com

1. Đầu phục Chúa, có nghĩa là, những ai ý thức rằng, mình là người yếu đuối, bất toàn. Có thể theo tiêu chuẩn con người, mình là người tốt, nhưng theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa, mình là kẻ có tội. Nếu người đó tin rằng Chúa Cứu Thế Jesus là Con Trời, Chúa Ngôi Hai trong Chúa Ba Ngôi, giáng trần, chịu chết trên thập tự giá để đền tội cho nhân loại, trong đó có chính họ; lập tức, tội người đó được tha, linh hồn người đó được sự cứu, mà không cần phải có hoa quả hay lễ vật gì để dâng lên Thiên Chúa.

Posted in Những Chuyện Khó Nói, Tác giả Huỳnh Quốc Bình | 3 Comments

Hãy Cùng Làm “Người Lính Truyền Tin!”

Huỳnh Quốc Bình

Tôi từng nghe khá nhiều người Việt Nam than phiền rằng, “Tại hải ngoại, những người chống cộng, nói và viết bài tiếng Việt chỉ để mình đọc, hay viết cho nhau đọc, nói cho nhau nghe, chứ mấy bạn ‘Mỹ con’, và người Mỹ bản xứ chẳng biết, chẳng hiểu chúng ta muốn gì, hay làm gì? Rồi tôi cũng từng nghe lời than thở rằng, “Ngày nay, số người cổ võ việc bảo tồn và phát huy văn hóa Việt tại hải ngoại, và số người hết lời ca ngợi tác phẩm của người khác, hoặc khen văn chương của người khác, rất nhiều, nhưng những người bỏ tiền ra mua sách, hay góp phần quảng bá những gì mình khen ngợi, hoặc mình cho rằng nhiều người khác nên biết, nên hay, vẫn còn là thiểu số. Nói tóm lại, “cái khâu” góp phần quảng bá những gì mình cho là hay, là giá trị, là cần thiết, và người khác nên biết, vẫn còn là vấn đề chúng ta cần phải bận tâm.

Tôi tin rằng trong vòng hơn bốn Thập Niên qua tại hải ngoại, đặc biệt tại Hoa Kỳ, nhiều loại sách vở, băng nhạc, băng video phim ảnh, tài liệu chính trị, hoặc “phi chính trị”, có lợi cho sự tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, được xuất bản tại Việt Nam, nằm đầy trong các thư viện, nhiều hơn số sách vở hay phim ảnh do phía người Việt Quốc Gia tị nạn Việt cộng xuất bản. Tôi nghĩ, số sách vở và phim ảnh chống cộng của “phe ta” nằm tại tư gia của mọi người, nhiều hơn là nằm trong các thư viện.

Tuần qua, tôi hân hạnh được đọc một điện thư ngắn trong nhóm thân hữu mà tôi có địa chỉ email trong đó. Bức thư nói về một quyển sách Anh ngữ do Nhóm Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, phát hành. Điện thư ngắn mà Cựu Trung Tá Trần Văn Thư, nguyên là Tổng Hội Trưởng, Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam của cuối Thập Niên 90, gởi cho quý niên đệ của ông trong Trường Võ Bị, và một số thân hữu khác, có đoạn như sau, “Tôi đã đọc ‘hơi kỹ’ cuốn sách Biên Khảo Lịch Sử Bằng Anh Ngữ – The Vietnamese National Military Academy and The Vietnam War (1948-1975) và tôi không  thể không ngưỡng mộ, tác phậ̉m lịch sử rất giá trị này. Hy vọng tác phậ̉m tuyệt vời này cần được pḥổ biến thật sâu rộng, so với tầm mức và rất giá trị của nó…” (hết trích)

Nhắc đến ông Trần Văn Thư, tôi không làm công việc giới thiệu hay đánh bóng một cá nhân trong bài viết này, bởi tôi không có nhu cầu đó, và tôi tin rằng Ông Thư cũng không cần tôi làm điều đó, nhưng để tôi chứng minh với những vị chống cộng, hay quý vị xa gần, về một trong những người lính Việt Nam Cộng Hòa rất quan tâm đến chính trị Việt Nam và Hoa Kỳ, đã có sự nhận xét về quyển sách Anh ngữ mà tôi vừa đề cập.

Ông Trần Văn Thư, người từng tốt nghiệp Cao Học về Chính Trị Học (Political Science) tại Hoa Kỳ, cộng với những “kinh nghiệm xương máu” thời ông còn là một người lính Việt Nam Cộng Hòa, cũng như tại hải ngoại, tôi từng chứng kiến ít nhất hai lần Ông Thư đã cùng một số nhân sĩ Việt Nam và Ban Chấp Hành Cộng Đồng Việt Nam tại Oregon của cuối Thập Niên 90, đối chất và bẻ gãy âm mưu của phái đoàn Việt cộng đến Oregon để tuyên truyền cho chế độ Việt cộng tại Việt Nam và kêu gọi chất xám về giúp nước, trước các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ, để tôi an tâm giới thiệu quyển sách nêu trên đến mọi người.

Ông Trần Văn Thư giới thiệu tác phẩm Biên Khảo Lịch Sử Bằng Anh Ngữ – The Vietnamese National Military Academy and The Vietnam War (1948-1975) và kèm theo lời giới thiệu của nhóm chủ trương, như sau.

GIỚI THIỆU BIÊN KHẢO LỊCH SỬ BẰNG ANH NGỮ – THE VIETNAMESE NATIONAL MILITARY ACADEMY AND THE VIỆT NAM WAR (1948 – 1975)

– Biên khảo lịch sử này nhắm đến các đối tượng: Các thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại, các Quân Nhân Hoa Kỳ gốc Việt, các nhà nghiên cứu lịch sử Chiến Tranh Việt nam.

– Biên khảo lịch sử này đề cập đến sự hình thành và phát triển của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (1948 – 1975), với những đóng góp và hy sinh của những sĩ quan xuất thân từ ngôi trường này trong Chiến Tranh Việt Nam.

– Phát xuất từ truyền thống ái quốc của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), lịch sử của Dân Tộc Việt Nam từ thời lập quốc cho đến hiện nay được trình bày khái quát nhưng đầy đủ, giúp cho độc giả hiểu biết về cội nguồn, việc mở mang bờ cỏi, và những thăng trầm của Đất Nước Việt Nam qua mọi thời kỳ.

– Chiến Tranh Việt nam được phân tích dưới nhãn quan của những Người Lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã từng tham gia trực tiếp vào cuộc chiến. Biên khảo này cung cấp một cái nhìn khác về Chiến Tranh Việt nam.

– Những sự kiện chính trị và quân sự liên quan tới Chiến Tranh Việt Nam kể từ năm 1945 đến năm 1975, được liệt kê theo thứ tự thời gian.

– Đặc biệt: Bài phản biện những xuyên tạc của truyền thông Hoa Kỳ về Chiến Tranh Việt Nam. Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết, biểu đồ, bản đồ để giúp cho độc giả có một cái nhìn tổng quát về những khía cạnh của Chiến Tranh Việt Nam, nhiều hình ảnh liên quan đến lịch sử Việt Nam, Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa và thành phố Đà Lạt trước năm 1975.

– Sách dày 370 trang, khổ giấy 7”X10” là một tập tài liệu đã được biên soạn, khảo cứu, truy lục và cô đọng khá công phu, trình bày trang nhã. Sách được Amazon phát hành trên toàn thế giới vào ngày 30 tháng 12 năm 2020 với giá $15.99. Xin vào link của Amazon sau đây để mua: https://amzn.to/3pE4yMF

– Sách do một nhóm Cựu Sinh Viên Sĩ Quan TVBQGVN chủ trương và thực hiện. (Hết trích)

Ngoài ra, tôi cũng hân hạnh được đọc một bài viết khá chi tiết về quyển sách nêu trên, của tác giả CSVSQ Nguyễn Sanh, Khóa 28 TVBQGVN và tôi đã xin hân hạnh đăng tải trên Trang Nhà riêng của tôi tại link sau đây:

Tôi viết bài này chỉ để xin nói rằng, chúng ta hãy cùng làm “Người lính truyền tin” bằng cách mua tác phẩm này, trước cho chính mình và làm quà tặng cho con em của mình, bằng hữu, đặc biệt là cho quý bạn “Mỹ con” và “Mỹ thứ thiệt”, hoặc những ai đọc được Anh ngữ. Phần chúng ta, sau khi đọc xong, hãy gởi tặng cho các thư viện tại địa phương, hoặc đặt mua và gởi trực tiếp đến thư viện tại nơi mình cư trú. Sách có thể đặt mua trên Amazon, tại link sau đây: https://amzn.to/3pE4yMF, giá khoảng 16 Mỹ kim kể cá cước phí, rẻ hơn tiền ăn sáng, tốn kém chỉ ngang ngửa với một tô Phở Xe Lửa.

Đâu phải lúc nào chúng ta hay ai cũng có phương tiện hay điều kiện, hoặc đủ khả năng để giải thích cặn kẽ về chiến tranh Việt Nam cho các bạn trẻ Việt Nam và người ngoại quốc hiểu. Tại Sao chúng ta không “Làm người lính truyền tin”, bằng cách góp phần quảng bá quyển sách giá trị nêu trên, và những sách giá trị khác, có lợi cho công cuộc đấu tranh, ngăn chận hay chấm dứt chủ nghĩa cộng sản, đến mọi người? Thí dụ, một tác phẩm khác của tác giả ngoại quốc, mà tôi vừa được Chị Nguyễn Tâm An, người nổi tiếng thực hiện các chương trình Live Stream trên Facebook và YouTube, gởi tặng; đó là quyển Drawn Swords in a Distant Land: South Vietnam’s Shattered Dreams, có người đã thoát dịch, “Đấu Kiếm Nơi Vùng Đất Xa: Những Ước Mơ Tan Vỡ Của Miền Nam Việt Nam” của tác giả George J. Veith, cựu Đại Úy Thiết Giáp Hoa Kỳ và việc làm này của ông như thể một nỗ lực “Trả lại Sự Thật cho Miền Nam”. Sách này có bán trên Amazon giá 32 Mỹ kim kể cả cước phí. Sách đã được Bình Luận Gia Phạm Gia Đại, người có biệt danh Người Tù Cuối Cùng, tác giả Hồi Ký Những Người Tù Cuối Cùng, mà tôi có dịp hân hạnh đọc qua, giới thiệu. Hôm tháng 4 năm 2021, BLG Phạm Gia Đại đã phỏng vấn tác giả George J. Veith như thể góp phần quảng bá tác phẩm giá trị của ông bạn Mỹ chúng ta đến mọi người.

Tôi đã làm “bổn phận công dân”, tôi đã đặt mua sách The Vietnamese National Military Academy and The Vietnam War tặng cho con và rể của tôi và các bạn ấy đang đọc. Tôi sẽ mua sẵn thêm vài cuốn vừa nêu và của tác giả George J. Veith để làm quà tặng khi cần thiết, cho những ai đọc được tiếng Anh, để họ hiểu rõ chính nghĩa của những người Quốc Gia chống cộng, đặc biệt là những Chiến Sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta, từng chiến đấu hào hùng để bảo vệ đất nước, cho đến ngày 30-4-75.

Sau cùng, xin phép cho tôi được “khoe”. Trong nhà tôi lúc nào cũng có ít nhất từ mười đến hai mươi quyển sách về niềm tin Thiên Chúa, đặc biệt về lãnh vực hạnh phúc gia đình của tác giả Mục Sư Phan Thanh Bình và những sách về chính trị, xã hội của vài tác giả khác mà tôi thích. Để làm gì? Xin thưa, việc mua sách báo hay phim ảnh giá trị, để dành tặng thân hữu, là thói quen của tôi trong mấy chục năm qua. Bất cứ tác giả nào tặng sách báo cho tôi, tôi đều ủng hộ tiền in ấn như thể một lời tri ân dành cho những người đã bỏ thì giờ, công sức, viết ra những điều bổ ích cho tôi đọc và học hỏi.

Liên quan đến sách The Vietnamese National Military Academy and The Vietnam War, để bảo vệ chính nghĩa Quốc Gia, để vinh danh Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, tôi xin quý vị cùng tôi nhớ câu, “Đừng yêu lính bằng lời”.

Huỳnh Quốc Bình

Email: huynhquocbinh@yahoo.com

Posted in Tác giả Huỳnh Quốc Bình | Leave a comment

GIỚI THỊÊU BIÊN KHẢO LỊCH SỬ BẰNG ANH NGỮ – THE VIETNAMESE NATIONAL MILITARY ACADEMY AND THE VIETNAM WAR (1948 – 1975)

(Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam và Chiến Tranh Việt Nam)

CSVSQ Nguyễn Sanh, Khóa 28 TVBQGVN

Tháng 12 năm 2017, sách “Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Theo Dòng Lịch sử” được xuất bản. Đây là tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), do chính các Cựu Sinh Viên Sĩ Quan (CSVSQ) của TVBQGVN thực hiện.

(link: “giới thiệu sách TVBQGVN – TDLS”). https://www.facebook.com/anthonyha2017/posts/2815905172002245/

Sau quyển sách trên, rất nhiều CSVSQ của TVBQGVN bày tỏ ước mong được nhìn thấy một tác phẩm viết về TVBQGVN và về Chiến Tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ, để giúp cho các thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại, hiểu biết về cuộc chiến tranh Quốc-Cộng trước năm 1975. Lý do chiến đấu và hy sinh của người lính Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tranh tự vệ, chống lại sự xâm lăng tàn bạo của Cộng Sản để bảo vệ nền Dân Chủ còn non trẻ của dân tộc Việt Nam, đồng thời bảo vệ lý tưởng Tự Do cho người dân miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó là lịch sử của TVBQGVN và sứ mệnh của người sĩ quan xuất thân từ ngôi trường này trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam.

Để đáp lại niềm mong ước đó, tháng 8 năm 2018, một số CSVSQ của năm khóa (K10, K14, K24, K25 và K28) đã thành lập một ban biên soạn, với mục đích là thực hiện một biên khảo lịch sử về TVBQGVN và chiến tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ, nhằm giúp hiểu rõ hơn về đất nước Việt Nam và về TVBQGVN. Đồng thời tác phẩm này sẽ cung cấp thêm một cái nhìn khác về chiến tranh Việt Nam của những người lính Việt Nam Cộng Hòa, những người đã từng tham dự trực tiếp vào cuộc chiến tranh này, gởi đến cho các đối tượng sau đây:

– Các thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại không rành Việt Ngữ;

– Các quân nhân Hoa Kỳ gốc Việt,

– Các nhà nghiên cứu lịch sử, đặc biệt là về chiến tranh Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, biên khảo lịch sử THE VIETNAMESE NATIONAL MILITARY ACADEMY AND THE VIETNAM WAR (1948 – 1975) đã được thực hiện.

Ngoài các đề mục thông thường của một tác phẩm lịch sử cần phải có, nội dung của tập biên khảo lịch sử này có các đề mục chính sau đây:

1- Lời mở đầu: Một truyền thống của TVBQGVN (Prologue: A Vietnamese National Military Academy Tradition): Xuất phát từ truyền thống ái quốc mà TVBQGVN đã truyền đạt cho các SVSQ trong thời gian thụ huấn, được thể hiện qua tên gọi của nhiều khóa, qua các ca khúc quân hành, qua các khẩu hiệu trong doanh trại, qua các vở kịch lịch sử trong ngày mãn khóa…. tất cả những dữ kiện này có cùng một mục đích là hun đúc lòng ái quốc cho người SVSQ, và nâng cao tinh thần phục vụ của người SVSQ đối với quốc gia và dân tộc.

Cũng trong đề mục này, lịch sử và địa lý Việt Nam được trình bày khái quát nhưng đầy đủ, kể từ khi lập quốc cho đến ngày hôm nay. Những thăng trầm của dân tộc Việt Nam qua từng giai đoạn: Từ thời kỳ lập quốc, Bắc Thuộc, cuộc Nam Tiến kéo dài 700 năm, Pháp Thuộc, cho đến hoàn cảnh hiện nay. Phần này được trình bày như một “toát yếu” về lịch sử và địa lý, giúp cho độc giả trong thế hệ trẻ có được những hiểu biết căn bản về đất nước và dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ.

2- Phần I: TVBQGVN lịch sử hình thành và phát triển (Part I: The VNMA in the Passage of History): Dựa vào nội dung của sách TVBQGVN Theo Dòng Lịch Sử, về tiến trình hình thành và phát triển của TVBQGVN kéo dài trong 27 năm (1948-1975). Những thay đổi về trường sở, mục tiêu và đường hướng huấn luyện theo nhu cầu của quốc gia và những biến chuyển của chiến trường; những truyền thống và cơ cấu tổ chức của trường cũng được trình bày ở trong phần này.

3- Phần II: Các Khóa của TVBQGVN (Part II: The VNMA: Three Decades of Country, Honor, Duty and Traditions, 1948 – 1975): Đây là phần lược sử các khóa được lấy từ sách TVBQGVN Theo Dòng Lịch Sử. Đặc biệt những sự kiện chính trị và quân sự trong khoảng thời gian tuyển mộ, thụ huấn và mãn khóa của mỗi khóa được đề cập đến, cho thấy ảnh hưởng của chính trường và chiến trường Việt Nam đã có tác động khác nhau lên thành quả, và sự hy sinh của các sĩ quan tốt nghiệp của từng khóa.

4- Lời Bạt: TVBQGVN trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam (Epilogue: The VNMA in the context of the Vietnam War).  Phần này trình bày nhiệm vụ của các SVSQ tốt nghiệp, và đồng thời đề cập đến những hy sinh và cống hiến của các sĩ quan xuất thân từ TVBQGVN trong chiến tranh Việt Nam. TVBQGVN đào tạo những sĩ quan nòng cốt cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam tiền thân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH), vì thế lịch sử của TVBQGVN gắn liền với lịch sử của chiến tranh Việt Nam.

Cũng trong phần này, những lý do đưa đến sự thất bại của Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam được phân tích và bình luận. Dựa trên những chứng cớ và sự kiện lịch sử đã xảy ra trên các bình diện chính trị, quân sự và địa chính trị như: Ý đồ xâm lăng miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt ngay từ khi đất nước bị chia đôi (1954), chủ thuyết Domino bị bỏ dở nửa chừng, cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 đưa đến những hệ lụy: sự khủng hoảng lãnh đạo của miền Nam và quốc sách Ấp Chiến Lược bị xóa bỏ; cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân của Cộng Sản Bắc Việt, sự thất bại của chiến dịch Lam Sơn 719 (1971), chương trình Việt Nam Hóa chiến tranh, quan điểm bất nhất của Hoa Kỳ về chiến tranh Việt Nam; Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), Hiệp Định Paris 1973, khuynh hướng bài chiến tranh của phần lớn truyền thông Hoa Kỳ, sự thiếu vắng một chiến lược bền vững, sự yếu kém về tình báo, chiến thuật, việc trang bị vũ khí muộn màng cho QLVNCH so với đối phương…

Phần này có thể xem như một cái nhìn về chiến tranh Việt Nam của người sĩ quan xuất thân từ TVBQGVN.

5- Những chữ viết tắt, từ ngữ quân sự, danh từ riêng, địa danh cần giải thích (Glossary of Abbreviations and Terms)

6- Phần phụ lục (Appendices): để giúp làm rõ hơn và phong phú hơn những đề mục chính trong nội dung của tập biên khảo, đã có thêm các phụ lục sau đây:

– Tiến trình hình thành của Quốc Gia Việt Nam (Vietnam as A Country): Căn bản về lịch sử và địa lý Việt Nam qua các thời kỳ: quốc hiệu, lãnh thổ, các trận đánh lớn bằng hình thức đối chiếu.

– Hành trình của ngôn ngữ Việt Nam (Journey of the Vietnamese Language): kể từ thời lập quốc cho đến thời cận đại.

– Vai trò của TVBQGVN trong quốc gia Việt Nam Cộng Hòa (The role of the VNMA in the Republic of Vietnam), của Cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi, Cựu Chỉ Huy Trưởng TVBQGVN 1968-1972.

– Đà Lạt nổi nhớ không rời (Đà Lạt, the City of Remembrance): Lịch sử của thành phố, những hình ảnh yêu quý của “Đà Lạt ngày tháng cũ” trước năm 1975, trong nỗi nhớ không rời của người sĩ quan xuất thân từ TVBQGVN. Lý do của tên gọi hàm chứa niềm tin tưởng và thương mến của người dân miền Nam đối với người “Sĩ Quan Đà Lạt”.

– Bài phản biện loạt phim truyền hình “Vietnam: A television History (1983)” “PBS’ Vietnam: A Television History Series: A History or Just Another Story? – A South Vietnamese Perspective”.

– Thư mục chọn lọc (Selected bibliography in English Language RVNAF author): Liệt kê một số tác phẩm viết về Chiến Tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ của các cựu tướng lãnh và cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

7- Niên Biểu Lịch Sử: TVBQGVN và Chiến Tranh Việt Nam qua những sự kiện lịch sử theo dòng thời gian (The Synoptic Outline of The VNMA and Việt Nam War in the Passage of History 1945-  1975): Phần này trình bày quá trình của chiến tranh Việt Nam và TVBQGVN qua việc đào tạo sĩ quan các khóa trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam ngày càng lan rộng và khốc liệt theo thứ tự thời gian (1945 – 1975). Những sự kiện chính trị, quân sự đã ảnh hưởng lên các khóa của TVBQGVN như thế nào, những thay đổi quan trọng của QLVNCH về cơ cấu tổ chức, trang bị; tiến trình rút lui của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh ra khỏi chiến trường Việt Nam, Hiệp Định Paris 1973 và những đạo luật, nghị quyết của Quốc Hội Hoa Kỳ liên quan tới chiến tranh Việt nam cũng được đề cập đến trong phần này.

8- Ban Biên Soạn (The Editorial Board):

– Nguyễn Cao Đàm PhD (VNMA Class 14,1960) Chief Editor

– Trần Mộng Di (VNMA Class 10, 1954)  Institutional Advisor

– Lưu Xuân Phước (VNMA Class 24, 1971) Editor

– Nguyễn Anh Dũng MRE, PE (VNMA Class 25, 1972) Editor

–  Nguyễn Sanh (VNMA Class 28, 1975) Editor

–  Huỳnh Tiến (VNMA Class 28, 1975) Editor/Publisher

9- Hình thức của tập biên khảo: Do ban Biện Soạn tự thực hiện, cuốn biên khảo được in trên khổ giấy 7’’x10”, trình bày trang nhã, dày gần 400 trang, với nhiều hình ảnh có giá trị lịch sử về TVBQGVN.

Sách đã được phát hành tại Amazon vào ngày 28 tháng 12 năm 2020 với giá $15.99 một quyển. Độc giả muốn đặt mua tập biên khảo lịch sử “The Vietnamese National Military Academy and The Việt Nam War (1948 – 1975)” xin mở link này: https://amzn.to/3pE4yMF

Từ miền Tây Bắc Hoa Kỳ, ngày 30 tháng 12 năm 2020

Trân trọng giới thiệu và kính chúc một năm mới an khang, hạnh phúc.

CSVSQ Nguyễn Sanh, Khóa 28 TVBQGVN

Posted in Bài vở của nhiều tác giả, Đời Sống Quanh Ta | 1 Comment

Lòng Chung Thuỷ!

Huỳnh Quốc Bình

…Ai thiếu sự thuỷ chung sẽ dễ dàng phạm tội và trở thành những kẻ mà thế gian nguyền rủa là đồ vô lại hay thứ bất lương…

Văn chương Việt Nam có nhiều câu truyện hay điển tích nói lên ý nghĩa của sự thủy chung. Các câu truyện nổi bật nhất là truyện hai anh em nhà họ Cao cùng với cô con gái họ Lưu trong “Sự Tích Trầu Cau”, truyện “Lưu Bình Dương Lễ” và truyện “Trần Minh Khố Chuối”.

Lịch sử cận đại có những người phụ nữ Việt Nam hay những người vợ trẻ chấp nhận cuộc sống thiếu thốn, gian khổ, cô đơn, để chờ ngày chồng mình trở về dù biết rằng sự đoàn tụ rất mong manh bởi vì họ bị giam cầm không bản án trong các nhà tù khổ sai của chế độ Việt cộng sau ngày 30-4-75.

Hình minh họa: Trại tù khổ sai không bản án của chế độ Việt cộng có tên gọi là “cải tạo” sau ngày 30-4-75

Ca dao Việt Nam có những câu nói lên sự chung thủy trong tình chồng vợ.

Đất có bồi có lở,
Người có dở có hay.
Em nguyền một tấm lòng ngay
Đinh ninh một dạ đến ngày trăm năm.

Trong tình chồng vợ hay tình yêu đôi lứa, việc chờ đợi một người vì hoàn cảnh khắc nghiệt phải xa cách nhau, có thể dễ cho người ở vị trí đợi chờ giữ trọn sự thủy chung, bởi vì sự thương hại. Chờ một người đã phản bội mình và mong rằng người đó quay trở lại, mới là chuyện khó.

Tình anh em ruột thịt, bạn bè, đồng đội, chiến hữu, đồng chí, tình quê hương dân tộc, và tình anh em trong niềm tin Thiên Chúa, đều cần phải có sự thuỷ chung. Thiếu sự thuỷ chung, ý nghĩa của các tình cảm đó không còn giá trị nữa, mà nó chỉ là những danh từ hay thành ngữ rỗng tuếch. Thà chúng ta ít học, thà chúng ta không nhận mình là người có đạo hay có Chúa ở cùng, mà có sự thuỷ chung, hơn là một người khoa bảng, nhận mình là Cơ Đốc Nhân nhưng có lòng dạ phản trắc hay trở mặt với các thứ tình cảm cao đẹp mà tôi vừa nêu. Kẻ nào có lòng dạ phản trắc hay thiếu sự thủy chung hoặc phản bội ân nhân sẽ không đủ tư cách để dạy lẽ đạo hay dạy đời người khác. Đối với bọn đó, người tử tế có quyền không dành cho chúng sự kính trọng hay trân trọng dù là tối thiểu.

Một Cơ Đốc Nhân chối bỏ lẽ đạo mà mình đã nhận là thiếu sự thuỷ chung. Trong phạm trù “chối bỏ lẽ đạo” mà tôi muốn nói, không chỉ là hành động bỏ đạo mà là những lời nói hay các việc làm ngược lại những gì mình đã học, đã biết, hay đã dạy người khác. Hình ảnh các môn đồ và các đoàn dân từng theo Chúa Cứu Thế Jesus để nghe những lời phán dạy của Ngài, nhưng sau đó họ đã im lặng không dám lên tiếng bênh vực Ngài, hay chối bỏ Ngài, đều nói lên sự thiếu thuỷ chung trong thời điểm đó. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua lời phán của Chúa Cứu Thế Jesus trong Phúc Âm Giăng 8:31-32. Câu 31 ghi, “Bấy giờ Ngài phán cùng những người Giu Đa đã tin Ngài, rằng: ‘Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta.'” Sự thuỷ chung đưa đến kết quả gì? Câu 32 đã nói lên điều đó, “Các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi.”

Nói đến sự chung thuỷ, người ta sẽ không quên lòng trung thành giữa người này và kẻ khác. Sự trung thành một cách đúng nghĩa nói lên tính liêm sỉ của một con người. Sự trung thành một cách mù quáng là ươn hèn và yếu kém trong bản chất tầm thường của một con người tội lỗi. Người có nhân cách, thà người ta “cạp đất” mà ăn còn hơn hưởng sự giàu sang, mà trở thành kẻ phản bội anh em và các loại tình cảm thiêng liêng khác, tàn tệ nhất là phản bội ngay chính ân nhân của mình.

Có người đã ví những kẻ thiếu sự thủy chung hoặc phản bội ân nhân là thua loài chó, “chó không phản chủ”. Thật ra, sự so sánh này rất khập khiễng, bởi người là người, chó là chó. Bản chất của loài chó là trung thành tuyệt đối với chủ của nó, ngoại trừ chó điên.

Hình ảnh minh họa: Chỉ có chó điên mới phản chủ

Riêng loài người có hình ảnh của Thiên Chúa và có trí tuệ, lương tri mà Thiên Chúa ban cho. Người bình thường là người biết phải, biết quấy, và người ta gọi đó là người tử tế. Những kẻ chẳng biết gì phải quấy và thiếu sự trung thành với người đáng trung thành, người ta gọi đó là đồ phản phúc hay thứ bất lương.

Làm chủ một công ty hoặc công sở, người ta cần gì ở người cộng sự viên, người công nhân, hay người quản lý? Người ta cần lòng trung thành của người quản lý và nhân công. Trong Kinh Thánh có nhắc đến lòng trung thành. Sứ Đồ Phao-lô đã nói, “Vả lại, cái điều người ta trông mong nơi người quản trị là phải trung thành” (1 Cô-rinh-tô 4:2).

Trong văn hoá Á Đông, lòng trung thành giữa chủ và nhân công rất nổi bật. Trong xã hội Tây Phương, vấn đề trung thành rất lu mờ. Người ta thường đến với nhau vì quyền lợi đôi bên theo kiểu, “Còn bạc còn tiền còn đệ tử. Hết cơm hết gạo hết ông tôi.” Trong các nước Tây Phương, khi chủ cần bớt người, họ cho nhân công nghỉ việc. Nhân công thấy chỗ khác trả lương hậu hĩ hay quyền lợi cao là họ bỏ việc v.v…

Thiếu lòng trung thành hay thiếu sự thủy chung, con người dễ phản bội nhau chỉ vì những danh vọng hảo huyền, những loại chức quyền tạm bợ. Để biện minh cho sự phản trắc đó, người ta đưa ra nhiều lý lẽ, lý do dường như “chính đáng” và “chính nghĩa”, nhưng thực chất đó chỉ là sự phản trắc hay phản bội nhau một cách trắng trợn và phũ phàng của bọn bất lương.

Lịch sử cận đại cho thấy trong cuộc chính biến, đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngày 1-11-63, cho dù người ta có thích hay không thích gia đình nhà họ Ngô, người ta cũng phải thấy điều này; thành phần phản bội Cụ Diệm không phải là những người chiến đấu gian khổ ngoài các mặt trận, mà chính là những kẻ từng hưởng bổng lộc của chính phủ và chịu ơn gia đình họ Ngô. Đó cũng là những kẻ từng khúm núm hay đứng “cong lưng” trong những khi đối diện với Tổng Thống Diệm.

Tôi từng hân hạnh đọc sách Cách Xử Thế Của Người Xưa và tôi nhớ đại khái ý niệm này, “Châm ngôn của những người có quyền chức lớn, đó là, khi có kẻ đến quỳ mọp dưới chân anh, anh phải lấy chân mà đè đầu nó xuống, vì nếu không khéo, nó sẽ trổi dậy để cắn anh.”

Nhiều người dễ tính hay dễ tin đã từng trả giá cho sự dễ tính hay dễ tin đó. Trong số người đó, có tôi. Tuy nhiên, kẻ phản trắc chỉ có thể phản bội tôi được một lần, và tôi thầm tạ ơn Chúa đã cho tôi không làm công việc trả thù, mà tôi đã giao phó cho Chúa, cho “cơn thạnh nộ của Ngài”. Tạ ơn Chúa vì mỗi ngày Chúa cho tôi học thêm bài học nhân từ, hài hoà, nhưng không phải loại nhân từ, hài hoà không đúng lúc, đúng chỗ, mà tôi từng phạm phải.

Trong các sinh hoạt hằng ngày ngoài đời, người ta cần người cộng sự có lòng trung thành bao nhiêu, trong đạo của Chúa, người ta cũng cần những người có lòng trung tín với Chúa và với người, bấy nhiêu. Những nơi được gọi là “Hội Thánh” không thể có những cấp lãnh đạo ham chức quyền mà không quan tâm đến những bạn đồng lao của mình. Những nơi được gọi là “Hội Thánh”không thể có những kẻ chỉ chực hờ đạp người khác để “chui sâu, trèo cao” và vinh thân phì gia bằng những thủ đoạn đê tiện.

Trong Kinh Thánh chép bức thư của Sứ Đồ Phao-lô gởi cho người Phi-líp. Phao-lô đã lượng giá cao về Ti-mô-thê (Timothy), “Thật vậy, tôi không có ai khác có cùng một tâm tình như Ti-mô-thê, là người thật tình lo lắng cho anh chị em. Vì ai nấy đều tìm lợi ích riêng cho mình chứ không tìm lợi ích cho Chúa Cứu Thế Jesus. Nhưng anh chị em biết phẩm cách của Ti-mô-thê, người đã cùng tôi, như con với cha, phục vụ Phúc Âm” (Phi Líp 2:20-22).

Nếu người nào nhận mình là “Con Cái Chúa” hay “Đầy Tớ Chúa”, khi đọc Kinh Thánh qua bức thư của Sứ Đồ Phao-lô gởi cho cộng sự viên Tít, được chép trong sách Tít (Titus) 2:1-10 đã giúp cho người đọc thấy rằng, hãy dạy những gì phù hợp với giáo lý lành mạnh. Dạy người lớn tuổi phải biết tiết độ, nghiêm trang, khôn ngoan, vững vàng trong đức tin, yêu thương và kiên nhẫn. Dạy các phụ nữ lớn tuổi phải có tác phong thánh khiết, đừng nói xấu người khác, đừng nghiện rượu, phải biết dạy điều lành để họ có thể dạy các thiếu nữ trẻ tuổi yêu chồng con, khôn ngoan và trong sạch, chăm lo việc nhà và thuận phục chồng để lời dạy của Chúa không bị phê phán. Các thanh niên phải khôn ngoan, trong mọi sự phải biết nêu gương về việc làm phúc. Khi dạy dỗ, hãy tỏ ra chân thật và nghiêm chỉnh. Hãy nói chân lý lành mạnh để không ai chỉ trích và để những người chống đối mình sẽ xấu hổ vì họ chẳng có dịp để bêu xấu chúng ta. Dạy người làm công phải luôn luôn vâng phục chủ, cố gắng làm vừa lòng chủ, không được cãi lại. Không được trộm cắp đồ của chủ; trái lại, phải tỏ ra mình hoàn toàn đáng tin để trong mọi việc, đạo lý của Chúa thu hút mọi người.

Kết luận

Lòng chung thuỷ, sự thủy chung, trung thành, hay trung tín rất cần có trong sinh hoạt của con người, nhất là những nơi được gọi là “Hội Thánh”. Nếu ai thiếu lòng chung thuỷ với người phối ngẫu, người thân, bạn bè, chiến hữu, đồng đội, hoặc đồng chí, người đó sẽ cho phép người khác khinh thường và xa lánh mình.

Thiếu lòng chung thuỷ, người ta sẽ không dạy được con cái của mình chứ đừng hòng dạy người khác. Sự thuỷ chung còn là chất keo cho tình đoàn kết. Sự thuỷ chung mang đến thành công trên mọi phương diện. Ai thiếu sự thuỷ chung sẽ dễ dàng phạm tội và trở thành những kẻ mà thế gian nguyền rủa là đồ vô lại hay thứ bất lương.

Cầu xin Chúa cho chúng ta luôn kính sợ Ngài, có lòng chung thuỷ với những người tử tế, biết xa lánh hay vứt bỏ những thứ gì có tính cách tạm bợ, danh hảo, sắc dục tầm thường của đời, có lòng trung tín hay trung thành với lẽ đạo của Thiên Chúa mà chúng ta đã nhận lãnh. Nếu chúng ta ở vị trí lãnh đạo giáo hội hay Hội Thánh, hoặc dạy lẽ đạo cho người khác mà chính mình có những lời nói gian dối hay hành động gian ác, vô đạo, thích ngụp lặn trong tội lỗi bằng “vỏ bọc thiêng liêng”… Hãy coi chừng, Nước Thiên Đàng không thể dành cho những kẻ bất lương. Con dân Chúa có thể phạm tội một lần hay nhiều lần, nhưng thái độ “ủ tội” không biết ăn năn, không thể là người tin Chúa thật, hay người biết kính sợ Chúa một cách đúng nghĩa. Người nào không tin Chúa một cách đúng nghĩa, cần phải suy sét và điều chỉnh lại đức tin của mình trước khi quá muộn.

Huỳnh Quốc Bình

E-mail: huynhquocbinh@yahoo.com

www.huynhquocbinh.net

Posted in Những Chuyện Khó Nói, Tác giả Huỳnh Quốc Bình | 1 Comment

Audio: Sống Đạo

Bài giảng 26 phút
Đề tài: Sống Đạo
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Công Cha Nghĩa Mẹ!

Huỳnh Quốc Bình

… Đừng để cha mẹ mình lúc còn sống phải ở “nhà lá” nhưng sau khi các vị qua đời, mình lại tranh nhau xây “nhà lầu” cho họ ở…

Người Việt Nam có nhiều điển tích và chuyện dụ ngôn đề cập đến những người con có lòng hiếu thảo với cha mẹ, hoặc bất hiếu với cha mẹ. Người Trung Hoa có “Nhị Thập Tứ Hiếu” (24 tấm gương của những người con hiếu thảo). Điều đáng chú ý, ai cũng biết rằng, lòng hiếu thảo là đáng trọng và kẻ nào bất hiếu với cha mẹ luôn bị người đời khinh khi, xa lánh; tuy nhiên, hình ảnh những người con đối xử tệ bạc với bậc cha mẹ, không phải là hiếm thấy trong xã hội ngày nay.

Một người bất hiếu hay bạc bẽo với cha mẹ, không thể nào có lòng chung thủy với người phối ngẫu. Nếu họ nhẫn tâm ruồng bỏ cha mẹ, anh chị em họ được, có ngày họ cũng sẽ đối xử với mình như thế. Cho nên ai có chồng, hoặc ai có vợ mà tỏ ra hài lòng khi thấy chồng mình hay vợ mình tốt với mình hơn cha mẹ, anh chị em của họ, các bạn hãy cẩn thận, có ngày họ sẽ đối xử với mình một cách tương tự.

Nói đến vị trí con cái, cũng phải công bằng để không tránh né đề cập đến vị trí của bậc cha mẹ. Đối với tôi, cha mẹ nào vô cớ ruồng bỏ con cái của họ được, có ngày họ cũng sẽ cư xử với người khác một cách tương tự. Một người cư xử tệ bạc với cha mẹ hay con cái một cách triền miên, họ không thể nào là một người bạn tốt của chúng ta. Tôi nói điều này và tôi không bao giờ sợ mình nói sai. Vì sự giới hạn của bài viết, tôi không thể dài dòng ở điểm này, nhưng nếu quý độc giả nào, không câu nệ niềm tin tôn giáo và tạm gác một bên yếu tố “không muốn ai mô phạm mình” đều có thể nghe sáu bài giảng luận của tôi về các đề tài “hạnh phúc gia đình” tại Website www.huynhquocbinh.net trong mục Audio “Đời Sống An Bình”

Trong xã hội, thời nào cũng khá giống nhau ở điểm, cha mẹ nuôi con cả đời, không sao, nhưng con cái mới lo cho cha mẹ được vài năm vài tháng lúc tuổi già bóng xế, đã vội kể công. Có người còn nhẫn tâm dằn vặt cha mẹ một cách không nao núng. Người Việt mình có câu, “Một bà mẹ nuôi cả mười đứa con, nhưng mười người con không nuôi nỗi một bà mẹ.” là như vậy. Người đời có những câu vè vô cùng xứng đáng dành cho những ai có thái độ tính toán hay kể công với cha mẹ, có thể suy nghĩ, “Mẹ nuôi con như biển Hồ lay láng, con nuôi Mẹ tính tháng tính ngày.”

Tôi từng nghiêm chỉnh nói thẳng với các con tôi rằng, “Không ít người Việt Nam có chủ trương là họ nuôi con cái lớn khôn cho tròn bổn phận, chứ họ không mong con cái báo đền công ơn sinh dưỡng. Riêng Ba thì khác, ngày nay Ba Mẹ còn khoẻ, còn làm ra tiền, các con muốn cái gì hợp lý Ba Mẹ cũng cho; khi Ba Mẹ già yếu, Ba Mẹ cần các con giúp đỡ, các con nhớ giúp Ba Mẹ nhé…” Khi nói câu này, tôi không mong hay bắt buộc các con tôi phải trả ơn cho vợ chồng tôi, nhưng tôi muốn gieo vào đầu chúng một thông điệp, chúng phải nhớ đến công ơn sinh dưỡng của cha mẹ, bởi các con tôi cũng phải lo lắng và dạy dỗ các con của chúng nó sau này. Kẻ bất hiếu không thể dạy hay mong con cái của họ có lòng hiếu thảo được. Dĩ nhiên, người ta nói “nước mắt chảy xuôi” và tôi cũng ý thức điều đó lắm. Dù vậy, tôi vẫn nửa thật, nửa đùa với các con tôi rằng, “Ba đã nói rõ ý của Ba rồi đó. Mai mốt đứa nào bạc bẽo với Ba  Ba còn tha, chứ bạc bẽo với Mẹ, có guốc tao phang guốc, có gậy tao phang gậy đó nhé…”

Người ta có ghi lại lời nói của Khổng Phu Tử về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, “Bách Thiện Hiếu Vi Tiên”. Ý nghĩa của câu này là, một trăm điều thiện, “hiếu” là thứ nhất, là đi đầu. Một trăm không phải là số 100 mà là rất nhiều, vô lượng. Thiện là điều tốt. Điều tốt nghĩa là các việc làm với lòng chân thành, vì lợi ích của mọi người, của xã hội và tương lai.

Nói về công cha nghĩa mẹ, người Việt chúng ta có nhiều câu Ca Dao xứng đáng cho những người con tạc dạ.

Công cha như núi Thái Sơn.

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha;

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Đây là sự hy sinh của những người mẹ dành cho con cái khi chúng còn nhỏ cho đến lúc trưởng thành.

Ngày đêm mẹ ẵm, mẹ bồng.

Bên ướt mẹ nằm, bên ráo cho con.

Miếng ăn miếng mặc mẹ lo,

Làm sao con được ấm no mẹ mừng.

Hay:

Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,

Năm canh chày thức đủ năm canh.

Cũng vì con chính vì con,

Mỗi ngày mẹ một gầy mòn tấm thân.

Có những bà mẹ sanh con trong cảnh nghèo túng, bà phải vắt từng giọt sữa trong tấm thân khô gầy để mong cho con mình no bụng và chóng lớn khôn. Trên thế giới có nhiều hình ảnh hết sức cảm động và sống động về “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình”, hoặc “Công cha như núi Thái Sơn”. Có nhiều bà mẹ tình nguyện chết để con mình được sống. Trong số đó có những bà mẹ từ chối chữa trị chứng bệnh nan y của mình, bởi các bà không muốn thai nhi trong bụng bị tác hại bởi thuốc gây ra trong thời gian bác sĩ chữa trị cho các bà. Tôi cũng từng chứng kiến những người cha đã chia thận, sang máu cho những người con cần kéo dài cuộc sống. “Công Cha, Nghĩa Mẹ” là như thế đó.

Hiếu kính cha mẹ, chăm sóc và lo lắng cho cha mẹ là bổn phận, là nghĩa vụ, là cái phước của những người con, chứ không phải là cục nợ để rồi thích thì làm, mà không thích thì thôi. Kinh Thánh đã khuyến cáo, “Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm. Hãy tôn kính cha mẹ ngươi (ấy là điều răn thứ nhất, có một lời hứa nối theo),  hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất. (Ê-phê-sô 6:1-3).

Làm con mà khinh khi cha mẹ chỉ vì ngày nay mình học cao hơn, giàu có hơn, văn minh hơn, lụy người phối ngẫu hơn tình của mình đối với cha mẹ, hoặc phải cưu mang cha mẹ ở cái tuổi gần đất xa trời, coi chừng người sẽ chê và Trời không dung. Thánh Kinh có quyết liệt về điều này, “Ðáng rủa sả thay người nào khinh bỉ cha mẹ mình!” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 27: 16)

Con cái lễ độ nhắc nhở cha mẹ ruột hay cha mẹ của người phối ngẫu, khi thấy các vị có những điều sai trật, đó không phải là con bất hiếu, mà chính là con có hiếu. Bất cứ ai a tòng với cha mẹ làm điều sai trật, hoặc thấy cha mẹ làm sai mà không dám cản ngăn, để người đời xem thường cha mẹ, đó mới chính là con bất hiếu. Con cái cần phải vâng phục cha mẹ chứ không ngu muội đắm chìm trong sự yếu đuối của cha mẹ để được tiếng “hiếu thảo”. Thánh Kinh dạy, “Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm”. (Ê-phê-sô 6:1). Khi Thánh Kinh khuyến cáo những người con phải biết vâng lời cha mẹ trong mọi sự, có nghĩa là phải đúng ý Trời và không sai những gì thuộc về luân lý, đạo đức của con người; chứ không thể nghe lời cha giống như câu vè, “Con ơi học lấy nghề cha, một đêm ăn trộm bằng ba năm làm.”

Những ý tưởng xem thường, hay thái độ khinh khi cha mẹ, lợi dụng cha mẹ, lèo lái cha mẹ cho quyền lợi của mình, hay áp lực cha mẹ phải chia cắt tình nghĩa với anh chị em mình cho thoả dạ ganh ghét, đố kỵ, đó là hành động xem thường, khinh khi, rủa sả cha mẹ một cách gián tiếp chứ không phải là có hiếu với cha mẹ. Đây là điều Thánh Kinh cũng có đề cập trong sách Châm-Ngôn 20:20, “Ngọn đèn của kẻ rủa cha mẹ mình, sẽ tắt giữa vùng tăm tối mờ mịt.“ Hoặc “Khi một người nào chửi cha mắng mẹ mình, thì phải bị xử tử: nó đã chửi rủa cha mẹ; huyết nó sẽ đổ lại trên mình nó.” (Lê-vi Ký 20: 9)

Cho dù con cái có bị cha mẹ bạc đãi một cách vô cớ, và nếu vì lý do nào đó mình không thể tiếp tục im lặng, mình cần bày tỏ một lần cho cha mẹ biết và giao phó cho Thiên Chúa. Phải tuyệt đối tiếp tục giữ lòng hiếu thảo, vâng phục cha mẹ, cho dù mình phải đón nhận những điều phũ phàng cay đắng. Trời sẽ không phụ lòng những người con hiếu thảo, vì, “Hỡi kẻ làm con, mọi sự hãy vâng phục cha mẹ mình, vì điều đó đẹp lòng Chúa.” (Cô-lô-se 3: 20)

Có một bà cụ Việt Nam nói với Mục Sư Phan Thanh Bình, tác giả quyển “Tình Già” được ghi lại trong trang 137: “Mục Sư ạ, lúc tôi còn mạnh, tụi con tôi coi tôi như trái banh cà na. Tụi nó chơi Football, banh tới ai là ôm riết, giữ kỹ. Đã có lúc tôi là trái banh đó. Đứa nào cũng muốn tranh nhau giữ tôi để tôi trông con chúng nó. Bây giờ con chúng nó lớn cả rồi. Tôi trở thành trái banh tròn, và tuị nó chơi soccer. Banh tới chân đừa nào là đứa đó đá qua đứa khác. Bây giờ tôi là trái banh bị đá ra khỏi sân…”

Khoảng năm 2003, tôi có đọc một bài báo mà tôi quên tên tác giả, tôi chỉ nhớ tiêu đề ngộ nghĩnh “sống nhà lá chết nhà lầu” và nó đã thu hút tôi đọc trọn bài và nhớ đến ngày nay. Nội dung bài viết tác giả mô tả cảnh con cái bất hiếu với cha mẹ, lúc cha mẹ còn sống, không lo lắng, chăm sóc.

Có người còn nhẫn tâm ruồng bỏ cha mẹ một cách không thương xót. Vì muốn làm vui lòng người phối ngẫu nên họ đã để cho cha mẹ sống ở một xó nào đó, cả tháng nếu không muốn nói là cả năm, chưa đến thăm được một lần. Họ xem cha mẹ như thể là “cục nợ” vứt đi không tiện, mà để lại cũng không xong. Vậy mà khi cha mẹ qua đời, họ xây mồ lớn lắm.

Tranh nhau xây “nhà lầu” cho cha mẹ

Có người sau khi xây xong, nhưng vì thấy người cùng quê về Việt Nam xây mồ cho cha mẹ to lớn hơn nên họ cố “báo hiếu” bằng cách đập bỏ và xây lại cho trội hơn người khác.

Hình minh họa

Không phải chỉ có bài báo ấy nói về điều nghịch lý đó, nhưng ngày nay người ta có nhiều hình ảnh về việc những người con “hiếu thảo” đã không ngại tốn kém bạc tiền, để bằng mọi cách phải cho cha mẹ ở nhà lầu sau khi chết, mặc dù lúc còn sinh tiền, các đấng sinh thành của họ phải ở “nhà lá” và chịu cảnh “ăn mắm húp giòi” giống như câu ca dao, “Mẹ già hết gạo treo niêu, mà anh khăn đỏ khăn điều vắt vai.”

Kế luận

Bất cứ ai có cha mẹ ở cùng nhà, có dịp săn sóc cha mẹ, dù là cha mẹ chồng hay cha mẹ vợ, đó là đại phước cho các bạn, chứ không phải là cục nợ mà các bạn phải gánh. Chúng ta cần sống làm sao, đừng để người đời mỉa mai qua câu vè, “Còn sống thì không cho ăn, thác xuống âm phủ, làm văn tế ruồi.”

Hiếu kính cha mẹ, biết quý trọng “công cha nghĩa mẹ” là điều bắt buộc phải có, chứ không chỉ là nghĩa cử cao đẹp của người này đối với người kia. Thiên Chúa có một lời phán với con người như sau, “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi ban cho. (Xuất Ê-díp-tô Ký 20: 12)

Tôi không còn cha mẹ ruột hay cha mẹ vợ. Hồi cha mẹ vợ tôi còn sinh tiền tôi dặn lòng là cho dù cuộc đời có nhiều thay đổi, lòng người dễ dàng có những đổi thay nhưng tôi sẽ gắng nhớ là không bao giờ xem cha mẹ vợ khác hơn cha mẹ ruột của tôi, giống như Ba tôi từng cư xử tử tế với Ông Bà Ngoại của tôi và cả nhà vợ của Người hơn nửa Thế Kỷ trước. Và tôi cũng hy vọng những gì tôi viết ra hôm nay, không để “dạy đời” người khác, mà để nhắc nhau ý thức rằng, người tử tế cần phải biết cư xử hiếu thảo với cha mẹ mình, hay cha mẹ của người phối ngẫu.

Những ai có vợ có chồng, nên giúp nhau cư xử hiếu thảo và làm tròn bổn phận người con với các đấng sinh thành, bởi vì lòng hiêú thảo là đẹp lòng Trời, thuận lòng người. Các bạn, hay quý vị cần ôm trong vòng tay những con người có lòng hiếu thảo với cha mẹ thay vì “đê mê” với người phối ngẫu vì thấy họ chỉ tốt với mình. Họ mà bạc bẽo với cha mẹ của họ được, thái độ đó sẽ đến với mình không còn xa lắm đâu. Riêng bậc cha mẹ nào đang sung sướng với người con “hiếu thảo” này, cũng đừng cay đắng với người con “bất hiếu” kia, bởi vì người xưa đã nói, “Nhà nghèo, mới hay con thảo, nước loạn mới rõ tôi trung.”

Huỳnh Quốc Bình

email: huynhquocbinh@yahoo.com

www.huynhquocbinh.net

Tác giả viết bài này bên cạnh quyển Thánh Kinh và trước di ảnh của hai Đấng Sinh Thành.

Ghi chú quan trọng dành cho những ai có lòng giúp tác giả quảng bá bài viết này:

1. Bài viết này tác giả viết vào năm 2012, nay hiệu đính cho gọn để các tờ báo giấy giúp đăng tải sẽ dễ dàng hơn.

2. Nếu cơ quan truyền thông nào chọn sử dụng bài viết này, tác giả rất biết ơn, nhưng xin đừng sửa đổi nội dung của nó, vì sẽ làm cho ý của tác giả bị hiểu sai lạc.

3. Khi bài viết này gởi ra lần đầu và những năm kế tiếp, có một tờ báo của Tin Lành tại San Diego, California đã tùy tiện chỉnh sửa nội dung bài viết mà không có sự đồng ý của tôi, khiến nhiều người hiểu sai ý của tác giả và của Mục Sư Phan Thanh Bình. Xin khẳng định ngắn gọn, tác giả bài viết này và MS Phan Thanh Bình không hề công kích hay lên án những ai gởi cha mẹ già vào viện dưỡng lão, bởi các hoàn cảnh đều không giống nhau. Ai nghĩ rằng mình có thể viết về lãnh vực này hay hơn, xin tự viết riêng cho chính mình và cho tôi được hân hạnh học hỏi thêm. Xin đa tạ!

Posted in Gia Đình & Xã Hội, Tác giả Huỳnh Quốc Bình | 2 Comments

Người, Nghề và Hành Động Hạ Cấp!

Huỳnh Quốc Bình

… chính thành phần có học nhưng không hiểu đâu là danh dự, đạo đức, mới là thủ phạm làm nhục tập thể người Việt chân chính, gồm những người làm ăn lương thiện, cần cù…

Mỗi vị trí trong xã hội đều có giá trị riêng của nó. Trong sinh hoạt xã hội, mọi người thường tôn trọng những người trí thức (tôi nói trí thức chứ không phải có nhiều bằng cấp) và tôi cho điều này là hợp lý. Người ta tôn trọng giới trí thức là vì trong xã hội phải có đẳng cấp. Đẳng cấp để nêu cao tinh thần thăng tiến của con người, chứ không phải để khinh thường người bình dân. Dù vậy, người thất học hay ít học cũng không thể vì mặc cảm mà vỗ ngực xưng là “bần cố nông” là “vô sản” rồi chạy theo cái đám gian ác, sử dụng chiêu bài “cách mạng” để san bằng các giai cấp, hầu che đậy hành động cướp của giết người của chúng, giống như bọn Việt cộng tại Việt Nam hay các nước độc tài trên thế giới.

Ngay những quốc gia dân chủ, tự do, nếu ai cũng là bác sĩ thì ai chữa bệnh cho ai? Nếu không có người làm nghề chân tay, cực khổ đóng thuế cho chính phủ, làm sao những bạn trẻ có điều kiện học ra trường thành bác sĩ, kỹ sư? Ai cũng làm thầy ký hay cô ký, ai lo đổ rác và lau chùi, dọn dẹp phòng ốc hay những nơi công cộng được ngăn nắp, sạch sẽ? Nếu không có những người nông phu hay người đánh cá và thợ thuyền, dân khoa bảng, trí thức, nhà giàu, hay quan quyền cạp đất mà ăn, hay trần truồng mà sống hay sao? Trong gia đình, nếu không có những bậc cha mẹ, anh chị, chấp nhận lao khổ để hy sinh cho con mình, em mình, làm sao con em của họ có thể trở thành người học cao, hiểu rộng, có nhà cửa cao sang? Người ta cũng thấy một số điều nghịch lý hay phũ phàng xảy ra, đó là trong những buổi tiệc tùng của ga đình và họ hàng, những người “thất học” hay “mù chữ” từng là ân nhân của những người khoa bảng, lại bị bỏ quên hay bị lu mờ trước những người có học.

Xã hội Việt Nam trước và sau 30-4-75, có lẽ nghề chạy xe lôi hay xích lô, khuân vác, hốt rác, nói chung là nghề lao động chân tay, thường bị người đời cho là “nghề hạ cấp”. Xét cho kỹ, ở đâu cũng vậy, một người tuy sống nghề lao động chân tay, nhưng có tư cách, tử tế, lương thiện, vẫn đáng trọng hơn những kẻ làm nghề trông rất cao trọng, mở miệng nói toàn chuyện thiêng liêng, nhưng luôn gian dối trong lời nói và việc làm.

Dù những nghề bị cho là “hạ cấp” đã và đang đóng nhiều tiền thuế cho chính phủ, từng cung cấp, nuôi dưỡng trực tiếp hay gián tiếp nhiều người “cao sang” trong xã hội vào thuở họ còn hàn vi. Tuy nhiên họ vẫn bị những người từng được họ cưu mang, tỏ ra khinh thường.

Nghề thu lượm đồ phế thải

“Recycle man” là nhóm chữ người Mỹ sử dụng để gọi những ai chuyên làm công việc thu lượm các loại thùng giấy, báo cũ và các loại ve chai hay lon nhôm… Không ít người thuộc thành phần “Recycle man” đã nhờ nghề lương thiện và khiêm tốn này mà nuôi cả bầy con ăn học đến nơi đến chốn. Các bạn trẻ của các gia đình đó đã tốt nghiệp kỹ sư, bác sĩ bằng tiền mồ hôi nước mắt của cha mẹ mình.

Nghề cắt cỏ

Tôi có ông bạn vong niên từng là sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, sau khi ra khỏi tù cộng sản, vượt biên, đến Hoa Kỳ ông chọn làm nghề cắt cỏ. Có lần ông tâm sự với tôi rằng, người anh vợ và bà chị dâu của vợ ông đã nói lời xách mé, “bộ hết nghề làm rồi sao mà cô lại để cho chồng cô chọn cái nghề hạ cấp ấy?” Ông bạn tôi làm nghề lương thiện nuôi vợ con mà gọi là nghề hạ cấp là thế nào?

Cựu Giáo Sư Đại Học

Một cựu giáo sư toán, ngoài kinh nghiệm giảng dạy tại Việt Nam, sau khi sang Hoa Kỳ, ông tốt nghịệp cao học. Sau khi ra trường làm việc một thời gian, vì hoàn cảnh, vì nhu cầu tài chánh gia đình thế nào đó, ông và vợ cũng là cựu giáo chức Việt Nam Cộng Hòa, cùng hai người con trai lớn đi học thêm nghề nails và ra mở tiệm nails. Ông bà làm thường trực, hai người con trai lớn chỉ làm cuối tuần. Kết quả, bốn bạn trẻ trong gia đình này đã ăn học thành tài, tất cả đều là kỹ sư, luật sư và dược sĩ.

Một phụ nữ có trình độ đại học

Hồi còn ở Việt Nam, chị có trình độ đại học, nhưng sang Hoa Kỳ phải sống nghề tính tiền và làm việc lặt vặt cho một tiệm bán thức ăn nhanh do ba mẹ chị và người trong họ hàng làm chủ. Sau đó chị chuyển sang nghề nails để có thể phụ giúp ba mẹ chị nuôi đàn em gần mười người còn cắp sách đến trường. Chị cùng ba của chị tạo nhà và các tiện nghi cho các em chị sinh sống, học hành. Sau hơn mười năm, các em của chị đều trở thành người khoa bảng. Người học thấp nhất cũng có bằng cử nhân, người học cao nhất là bác sĩ y khoa, chỉ có chị là “mù chữ” tại Hoa Kỳ. Ba của chị đã ngã bệnh ngay thời điểm các em của chị hầu hết đều chưa ra trường. Chị là cánh tay đắc lực của gia đình chị. Dù đã có chồng con, nhưng chồng chị vẫn thoải mái để chị phụ giúp gia đình chị. Tại Hoa Kỳ, chị không có bằng gì cả ngoài bằng lái xe và bằng giũa móng tay. Chị bị “mù chữ” là để cho các em của chị trở thành người khoa bảng, nhà cao cửa rộng như ngày nay.

Một bà mẹ goá

Một đoạn trong bài viết “Tâm Sự Bảy Năm Định Cư” của tác giả Tuyết Bùi, là tâm sự bà mẹ goá, một mình làm nghề nails nuôi con, “Thiên hạ thường đưa ra lời bóng gió chê bai nghề nails hạ cấp, dân không có học không biết tiếng Mỹ rành mới làm Nails. Tôi thì thấy nghề nào cũng là nghề, cũng mồ hôi nước mắt đổ ra mới kiếm được đồng tiền… Đây cũng là nghề làm dâu trăm họ, phải khéo chìu chuộng những bà khách khó tính như chìu bà mẹ chồng, đến khi khách hàng mỉm cười hài lòng, nói thank you, lúc đó mới nhẹ cả người…” Bà mẹ góa này có phải là thành phần hạ cấp không? Chắc chắn là không.

Ai làm nhục hay làm xấu cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ?

Thập Niên 80 tại Hoa Kỳ, đã có hằng trăm bác sĩ người Việt tại Tiểu Bang California bị sở y tế và an sinh xã hội phối hợp với cảnh sát Liên Bang bố ráp, bắt về tội gian lận thẻ y tế. Các văn phòng bác sĩ này đã cấu kết với bệnh nhân, hoặc chính họ lạm dụng thẻ y tế của bệnh nhân để trục lợi. Họ không chỉ gian lận một lần, mà có thể nói là họ làm giàu bằng sự gian lận này lâu ngày, cho đến khi bị phạt tù và bị rút bằng hành nghề. Cũng thời điểm đó, có những bạn trẻ sang Hoa Kỳ không có phụ huynh đi cùng, học hành dở dang, phạm pháp qua các hành động lấy cassette, trộm xe, ăn cắp vặt tại các siệu thị, cướp của người khác. So với hành động ăn cắp vặt của mấy người thất học và hành động gian lận quy mô, có tính toán của những người có học, tôi nghĩ chúng ta đã thấy ai hạ cấp hơn ai? Dù vậy, thói đời thường lên án những kẻ ăn cắp vặt và cho rằng những thanh niên Việt Nam trộm cướp đã làm xấu hay làm nhục người Việt tại Mỹ. Tôi nghĩ khác, chính thành phần có học nhưng không hiểu đâu là danh dự, đạo đức, mới là thủ phạm làm nhục tập thể người Việt chân chính, gồm những người làm ăn lương thiện, cần cù.

Nghề cao cấp và nghề hạ cấp

Nói đến nghề sang trọng hay “hạ cấp” tôi bổng nhớ đến bài báo nào đó mà tác giả có nhắc đến lời một ông thủ tướng của một đất nước thật sự phát triển về kinh tế, và biết tôn trọng quyền làm người, khi ông nhắc đến những câu chuyện về mấy thường dân đặc biệt của đất nước ông. Một trong những người được ông đề cao, là bà cựu thư ký 63 tuổi, người đàn bà này vì hoàn cảnh, đã phải đổi nghề nhiều lần. Cuối cùng, bà nhận một công việc lau chùi cầu tiêu để kiếm thêm tiền cho các con đi học. Con cái của bà không muốn bà làm nghề đó, vì chúng thẹn với bạn bè. Chúng hỏi bà, sao mẹ lại hạ mình quá thấp như vậy? Bà trả lời với con bà rằng, chùi cầu tiêu không làm mất nhân phẩm con người. Làm nghề lương thiện để sống, đâu có trộm cắp ai…” Kết thúc câu chuyện, ông thủ tướng ấy muốn mọi người phải biết và tin rằng phục vụ là việc làm danh dự, không phải là những việc thấp hèn. Chỉ có hành động làm ăn lươn lẹo, gian lận và trộm cướp, mới thấp hèn mà thôi.

Kết luận

Nghề cao cấp hay “hạ cấp”, hành động cao cấp hay hạ cấp, hoặc người cao trọng và “hạ cấp” cần phải được đánh giá một cách nghiêm chỉnh. Có những nghề tuy cao cấp nhưng người hành nghề đã có những hành động vô cùng hạ cấp. Trái lại, không ít người làm nghề bị cho là “hạ cấp” nhưng tư cách và đạo đức cũng như nhân cách của họ rất cao cấp.

Trong xã hội, vị trí trong sạch nào cũng đáng quý, nghề lương thiện nào cũng đều đáng trân trọng. Làm nghề gì hay việc cũng được, miễn đừng làm bậy hay luôn làm phiền người khác, là tốt. Những kẻ làm phách, làm tàng, làm sang, làm bộ trí thức, làm dáng đạo đức, làm ăn gian dối, làm thinh trước điều quấy; nhất là những kẻ làm nhục tổ quốc và dân tộc mình, mới đáng bị lên án là hạ cấp mà thôi.

Huỳnh Quốc Bình

e-mail: huynhquocbinh@yahoo.com

Posted in Những Chuyện Khó Nói, Tác giả Huỳnh Quốc Bình | Leave a comment

Audio: Cứng Lòng!

Bài giảng 26 phút
Đề tài: Cứng Lòng!
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Lo Xa Nhưng Không Lo Sợ!

Huỳnh Quốc Bình

… biết lo xa là đức tính tốt cần phải có ở mỗi người trong chúng ta. Người khôn ngoan, dứt khoát phải biết lo xa…

Tháng 12 năm 2020 tôi có viết bài tiêu đề “lo xa” để kể một số điều liên quan đến cá tính “không giống ai” của tôi. Bài viết được lưu trữ tại đây, https://huynhquocbinh.net/2020/12/17/lo-xa/

Sau khi tôi quảng bá bài viết nêu trên, có vài mục sư và vài vị cao niên tại Oregon, cùng nhiều độc giả xa gần, viết email ủng hộ, khen tôi biết thận trọng, lo xa trong đời sống, và dĩ nhiên, tôi rất cảm động. Cũng có một số người cho biết, nhờ đọc bài viết của tôi mà họ giật mình, nhắc nhở họ chớ xem thường những bất trắc có thể xảy ra trong đời sống hằng ngày. Bên cạnh những lời khích lệ, ủng hộ, cũng có một độc giả đã cho rằng kiểu lo xa của tôi đến từ tâm trạng của người có “đầu óc bệnh hoạn”. Người đó cho rằng ở các xứ tự do, tư bản và văn minh như Hoa Kỳ, mọi thứ đã có chính phủ lo; đừng làm như thể mình đang ở các nước chậm tiến hay cộng sản. Dĩ nhiên, tôi không bỏ thì giờ để đôi co với những độc giả góp ý với tôi kiểu “thầy đời” đó.

Tôi nhắc điều trên không phải vì sự bực mình, mà tôi chỉ muốn nói rằng, không phải ai cũng thích lo xa, hay có nhu cầu “lo xa”. Họ tự tin là phải, bởi mọi thứ đã có “nhà nước” hay xã hội lo rồi, họ chỉ lo hưởng thụ, không cần phải lo xa hay bận tâm giống như tôi hay bao nhiều người khác. Riêng những người có trách nhiệm với bản thân và gia đình mình, cho rằng, người khôn ngoan, dứt khoát phải biết lo xa.

Bài viết này tôi cũng muốn xác định rằng, lo xa và lo sợ hoàn toàn khác nhau. Tánh lo xa, hay biết lo xa, là hành động có suy tính, để đề phòng trước những việc không may có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Còn lo sợ là tâm trạng sợ hãi, lòng nơm nớp những lo âu.

Có người do hiểu lầm hay quá “thiêng liêng” nên cho rằng, con dân Chúa không cần phải lo xa hay chớ nên lo lắng thái quá, bởi theo họ, tánh lo xa dành cho những kẻ kém đức tin. Họ còn cho rằng với vị trí của một giáo sĩ hay mục sư, đáng lẽ tôi không nên viết bài tạo sự hoang mang cho người khác. Họ đã dựa vào lời khuyến cáo của Chúa Cứu Thế Jesus về sự “lo lắng” để kết luận rằng con dân Chúa không nên quá lo lắng hay lo xa.

Thật sự, Chúa Cứu Thế Jeus có phán, “Vậy, chớ lo lắng chi về ngày mai; vì ngày mai sẽ lo về việc ngày mai. Sự khó nhọc ngày nào đủ cho ngày ấy.” (Ma-thi-ơ 6:34)

Thời Cựu Ước, Kinh Thánh đã có dạy rằng, “Kế hoạch của người cần mẫn chắc chắn sẽ đưa đến dư dật, nhưng mọi kẻ hấp tấp sẽ đưa đến thiếu thốn.” (Châm Ngôn 21:5)

Căn cứ vào hai lời dạy trên, chúng ta sẽ thấy rằng, Chúa khuyến cáo “chớ lo lắng” chứ không phải Ngài dạy “chớ lo xa”. Bằng chứng là Kinh Thánh dạy rằng, để được đầy đủ hay thành công, con người phải có kế hoạch làm việc, phải có sự tính toán trước, bởi “đợi nước tới trôn rồi mới nhảy” mới giải quyết theo kiểu hấp tấp, kể như thất bại, và nếu nói về mặt vật chất, sẽ bị thiếu thốn.

Trong đời sống, tôi biết có những người rất bản lãnh, họ rất tự tin trong mọi sự, nhưng luôn biết phòng xa. Họ thường nghĩ trước những bất trắc có thể hay chắc chắn sẽ xảy ra, hầu chuẩn bị cách đối phó. Tuy nhiên, có những thành phần luôn ngại khó, sợ nguy, thứ gì cũng lo, cũng sợ, cũng không dám đối đầu, nhưng lại vô cùng bất cẩn trước những việc đáng lẽ họ phải biết “lo xa”.

Trận bão tuyết đổ xuống nhiều nơi tại Hoa Kỳ hôm giữa tháng 2 năm 2021 vừa qua, gây cho 70 người chết và thiệt hại vật chất lên đến 19 tỷ Mỹ kim. https://en.wikipedia.org/wiki/February_13%E2%80%9317,_2021_North_American_winter_storm

Vùng Tây Bắc Hoa Kỳ gồm Oregon và Washington hôm 14 và 15 tháng 2, cũng bị bão tuyết khá nặng. https://www.koin.com/news/photo-galleries/photos-ice-storm-oregon-sw-washington-02152021/

Quận hạt Clackamas Tiểu Bang Oregon, có bốn trường hợp tử vong vì khí độc carbon monoxide. Họ chết trong ba nơi khác nhau khi cố gắng giữ ấm sau khi một cơn bão mùa đông ập vào vùng Tây Bắc Hoa Kỳ và nhiều nơi khác. Riêng Tiểu Bang Texas là vùng nóng, ít khi bị lạnh, nên trận bão tuyết lần này, mọi người gặp nhiều khó khăn. Có những người chết vì khí độc carbon monoxide, thật thương tâm. Điển hình là hai phụ nữ, một già một trẻ đã chết oan, bởi vì thiếu hiểu biết về khí độc carbon monoxide. Họ nổ máy xe trong nhà xe (garage) để sưởi ấm, khí độc vừa nêu đã giết chết họ. Đây là loại khí độc được mô tả bằng tiếng Anh, “The Silent Killer”, tạm dịch, “sát thủ thầm lặng”.

Hằng năm, tôi có quảng bá bài viết về khí độc giết người, được lưu trữ tại đây:  https://huynhquocbinh.net/2021/02/18/nguoi-chet-theo-mua-dong-chet-vi-khi-doc-carbon-monoxide/

Cũng trong thời gian nêu trên, một gia đình tại Thành Phố Sugar Land, TX, USA, nhà bị cúp điện nên phải sử dụng lò sưởi để sưởi ấm. Không biết lý do gì đã tạo ra hỏa hoạn, kết quả bà ngoại và ba cháu nhỏ bị chết cháy. Cũng trong căn nhà đó, một phụ nữ 41 tuổi, mẹ của ba cháu nhỏ và người bạn gái của cô ấy được cứu sống, nhưng bị thương tích khá nặng.

https://www.fox4news.com/news/grandmother-3-children-dead-after-sugar-land-house-fire

Trong bài viết “lo xa” https://huynhquocbinh.net/2020/12/17/lo-xa/, tôi có kể rằng, do theo dõi thời cuộc tại Hoa Kỳ và thế giới, tôi có vài thứ phải “lo xa” nên nảy ra vài suy nghĩ “hơi bất thường”. Tôi đã gọi hỏi những người thân yêu và vài bạn hữu có nhà riêng, rằng:

Câu hỏi thứ nhất: Nếu chẳng may nguồn nước từ thành phố (city water) mà bạn sử dụng hằng ngày bị cúp hoàn toàn trong vài ngày, thì bạn có đủ nước để uống và nấu ăn hay không? Khoảng 90% số người cho biết là nước uống thì có đủ, nhưng nước để nấu ăn thì không.

Câu hỏi thứ nhì: Nếu chẳng may công ty điện lực hay công ty cung cấp ga (chất đốt) bị cúp vài ngày, bạn có phương tiện gì để nấu ăn không? Khoảng 50% số người cho biết là chỉ có thể nấu ăn vài ngày, số còn lại, không có phương tiện gì cả.

Câu hỏi thứ ba: Vào mùa đông, nếu không có ga và điện chừng vài ngày để sử dụng lò sưởi, bạn cần làm gì? Hầu hết mọi người đều cho biết là nếu mặc áo lạnh và trùm mền mà vẫn không đủ ấm thì phải “di tản” nhưng chạy đi đâu, họ chưa biết?

Những thứ lo xa của tôi đã xảy ra. Về chuyện thiếu điện đã tạo ra những hệ lụy thật thương tâm như đã nói. Còn chuyện thiếu nước thì sao? Xin thưa, vì nhiệt độ ngoài trời quá thấp, bão tuyết làm cho một số nhà bị khối nước đông lạnh quá nặng, làm sập máy nhà, ống nước bị bể, nhà không có nước uống hay nấu ăn. Cũng tại Texas, USA, vì trong nhà không có dự trữ nước, nên khi bị cúp nước, có người đã lấy tuyết nấu chảy thành nước, nấu mì gói ăn cho đỡ đói, https://youtu.be/PAW4uxrYk2U. Cũng may, nhờ họ có lò ga và có ga để nấu, nếu không, chờ tuyết tan chắc phải lâu lắm.

Tại Tiểu Bang Oregon, sau trận bão tuyết ấy, tôi có dịp chạy một vòng khu vực Thủ Phủ Salem và một vài vùng phụ cận, nên chứng kiến cây, nhánh cây gãy đổ nằm la liệt, chắc giới trách nhiệm thành phố phải có thêm thời gian để dọn dẹp.

Khu vực gia đình tôi cư ngụ bị cúp điện năm ngày. Tôi có phước hơn nhiều người, vì trước khi xảy ra vụ bão tuyết khoảng hai tuần, tôi có mua máy phát điện (generator) để thủ trước. Nhờ biết “lo xa” hay bị gọi là do “đầu óc bệnh hoạn” nên ngoài việc có điện để sử dụng đèn và lò sửi, gia đình tôi giữ được một tủ lạnh, một tủ đông lạnh thức ăn cho mình, đồng thời có cơ hội “cứu bồ” hàng xóm bằng cách tiếp điện cho một gia đình kế bên không có máy phát điện, giữ được một tủ lạnh, đèn và sử dụng lò sửi đủ ấm, cho đến khi có điện trở lại.

Tôi có viết theo kiểu “khoe” cho vui trên trang Facebook cá nhân, Huynh Quoc Binh, “Tự nhiên, hôm nay tôi trở thành “giám đốc công ty điện lực”. Tôi vừa cung cấp điện cho mình và cho hàng xóm. Máy phát điện và dây điện này nọ, nó dớt tôi gần 800$ của “đế quốc Mỹ”.

Như đã nói, tôi là người có tánh lo xa và thường cẩn thận trong mọi vấn đề. Cái tánh lo xa của tôi từng làm cho vợ con và những ai sinh hoạt chung với tôi rất bực mình. Tuy nhiên những thứ tôi “lo xa” ít nhiều đã lần lượt xảy ra và họ đã hiểu lý do tại sao tôi phải “lo xa”.

Kết luận: Tôi xin mượn lời kết luận trong bài “lo xa” để kết thúc bài viết này, “Khi con người được sống trong một đất nước thanh bình, tự do, không chiến tranh. Dễ dàng làm cho người ta không có sự cảnh giác hay mất dần sự đề phòng những bất trắc trong đời sống. Ai có tánh phập phòng lo sợ đủ mọi thứ thì không nên, nhưng biết lo xa là đức tính tốt cần phải có ở mỗi người trong chúng ta.

Huỳnh Quốc Bình

Email: huynhquocbinh@yahoo.com

Posted in Tác giả Huỳnh Quốc Bình, Đời Sống Quanh Ta | Leave a comment