Nói Về “Nghệ Thuật Phục Vụ Khách Hàng và Giao Tiếp Hằng Ngày”

Huỳnh Quốc Bình

Người ta không thể đổ thừa cho Thiên Chúa hay Ông Trời về tánh khí của mình. Đừng bao giờ khẳng định rằng, “Trời sanh tôi như thế” bởi ai cũng có thể chọn lựa để làm nên tánh tình của mình.

***

Khi nói đến chuyện “phục vụ khách hàng” nó rất dễ dàng làm cho người ta nghĩ ngay đến hình ảnh người bán phải chiêu đãi người mua trong ngành thương mại, tức là làm thế nào để người mua hàng hoặc mua dịch vụ thích người bán hàng hay bán dịch vụ. Nếu người mua hài lòng, họ sẽ quay trở lại nhiều lần khác ở những nơi họ thích. Nghĩ như thế không sai, nhưng không hoàn toàn chính xác. Thực tế hai chữ “phục vụ” không chỉ áp dụng trong việc mua bán mà còn dành cho nhiều trường hợp và nhiều lãnh vực khác, kể cả chuyện chính trị, và những nơi thuộc về tín ngưỡng tôn giáo.

Thỉnh thoảng, tôi thấy người Việt mình hay quảng cáo cho cơ sở thương mại của họ bằng câu có tính cách khẩu hiệu theo kiểu “giật gân” (slogan) để tạo sự chú ý của người khác giống như, “Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi.” Vậy mà không ít những nơi có lời quảng cáo như thế, người ta tới một lần và không bao giờ muốn quay trở lại bởi vì người ta đã vui lòng đến và cũng đã “kinh hoàng” trước khi ra đi. Tôi từng có kinh nghiệm đó. Tôi không nói những nơi đó quảng cáo dối trá hay cường điệu. Tôi nghĩ chắc là họ cũng muốn làm “vừa lòng khách đi” nhưng vì chưa được huấn luyện nên họ không biết làm thế nào để khách hài lòng giống như người Âu-Mỹ quan tâm về sự hài lòng của khách hàng qua ý niệm “Customer satisfaction is a top priority.”

Mỗi buổi sáng thức dậy, sau khi một người bước chân xuống khỏi giường, người đó có thể áp dụng phương cách “phục vụ” người khác bằng việc làm và lời nói để mang lại niềm vui, và hạnh phúc cho nhau, tức là cho những người thân yêu trong gia đình của mình. Đề tài “Nghê Thuật Phục Vụ Khách Hàng và Giao Tiếp Hằng Ngày” là một đề tài thiết nghĩ ai cũng nên quan tâm, tham khảo, và áp dụng vào đời sống của mình cho đến khi mình không còn khả năng giao tiếp với người khác, hoặc từ giả cuộc đời này.

Liên quan chuyện mua bán, người Mỹ rất quan tâm việc làm thế nào để khách hàng hài lòng như đã nói. Làm sao cho khách hàng hài lòng hoàn toàn khác với nịnh bợ khách hàng. Ai biết cách phục vụ khách hàng, khách hàng sẽ vui. Ai có thái độ nịnh bợ người khác, người ta sẽ cười vào mũi mình. Nói chung, dân tộc nào hay văn hóa nào cũng đều ghét hay khinh bỉ những kẻ nịnh bợ người khác.

Người Âu-Mỹ đã chính thức đưa sự quan tâm về “customer service” thành môn học và xem đó là một nghệ thuật, “The Art of Customer Service”. Các công ty lớn nhỏ tại Hoa Kỳ, nhất là các công ty lớn, những nhân viên nào có nhiệm vụ phải thường xuyên tiếp xúc khách hàng, dứt khoát nhân viên đó phải học môn này và bắt buộc phải áp dụng nó hằng ngày trong sự giao tiếp với mọi người. Nếu ai bị khách hàng than phiền nhiều hơn một lần, điều đó đồng nghĩa với việc người đó tự làm “bể nồi cơm” của chính mình.

Cung cách của một người khi giao tiếp với mọi người trong đời sống hằng ngày có “liên hệ mật thiết” với vấn đề phục vụ khách hàng và ngược lại. Một người có lối cư xử vụng về hay thiếu thân thiện với những người xung quanh, chắc chắn người đó không thể là một người có khả năng giao tiếp với khách hàng trong ngành thương mại. Nếu người đó thành công trong ngành thương mại, có thể sự thành công đó đến từ một yếu tố khác, hoặc đáng lẽ người đó phải thành công hơn thế nữa thì mới phải.

Tôi xin phép được hỏi quý độc giả rằng: Có bao giờ quý vị tỏ ra khó chịu bởi cung cách tiếp đãi khách hàng ở một nơi nào đó? Thí dụ: Quý vị không may gặp một người trong siêu thị, văn phòng, hay nhà hàng tiếp khách với gương mặt rất hắc ám, quý vị nghĩ sao? Thái độ của họ y như những tên công an VC đang chuẩn bị hỏi cung hay tra tấn những người “thấp cổ bé miệng”, quý vị có hài lòng không? Có bao giờ quý vị tỏ ra bực mình vì giống như mình vô lý bị kẻ khác xúc phạm bởi cách cư xử của người đó dành cho mình? Thí dụ: Quý vị gặp một người bản xứ hoặc người Việt Nam nào đó có gương mặt thiếu thân thiện với quý vị, và thái độ của họ đối với quý vị như thể quý vị không xứng đáng để họ nói chuyện, thử hỏi quý vị có muốn gặp hay giao thiệp với người đó không? Hỏi tức là trả lời. Chắc chắn là KHÔNG.

Có bao giờ chúng ta tự hỏi: Những thứ mà chúng ta từng bực mình hay khó chịu đối với người khác, chính mình cũng từng phạm phải mà mình không hay biết? Đây là điều tôi luôn trình bày trong những lần tôi có dịp nói chuyện về “Nghệ Thuật Phục Vụ Khách Hàng và Giao Tiếp Hằng Ngày” đối với những nơi mà những người chủ Mỹ lẫn Việt sẵn sàng trả tiền thù lao cho tôi để nhân viên của họ nghe tôi nói. (1)

Nếu có quý độc giả nào cho rằng mình chưa từng nghe lời than phiền sau đây, tôi rất phục, bởi vì quý vị đã đạt đến mức “thượng thừa” về việc bỏ ngoài tai những tiếng thị phi của người này hay kẻ khác. Tôi nghe người ta than phiền như vầy: “Cái chùa đó, cái nhà thờ kia, cái thánh đường nọ, hay cái thánh thất ấy, họ chỉ cần tiền của mình chứ chẳng cần quan tâm đến ai. Oh yeah! Nếu có, bảo đảm, họ chỉ quan tâm đến người nào cúng nhiều tiền, dâng hiến nhiều của mà thôi.” Điều này đúng hay sai tôi không biết, nhưng tôi từng nghe đầy tai như thế. Tôi không tin là các nơi đó tệ đến thế, nhưng có lẽ do họ nghĩ nơi đây là chỗ thiêng liêng, cần gì phải “chiêu đãi khách hàng”. Nếu có ai nghĩ như thế là vì người đó quá mức thiêng liêng bình thường, hay còn gọi là “thiêng liêng quá mấu”. Chỗ nào có con người, chỗ đó có sự bất toàn, chỗ đó luôn cần phải rút tỉa kinh nghiệm để tồn tại.

Tôi có hoài bão là làm sao để tôi có thể góp phần thay đổi lề lối trong các sinh hoạt chung, và các ngành mua bán của người Á Đông, đặc biệt là người Việt Nam. Quý độc giả có thể tìm hiểu thêm những gì chúng tôi đã và đang làm để đạt hoài bão ấy và cũng để “kiếm cơm” cho gia đình mình tại link này: http://www.pbc21.com

Tôi không phải là người tài giỏi về ngành thương mại. Tôi cũng không phải là người có đủ khả năng hay “tư cách” để dạy người khác làm giàu bởi vì chính tôi không phải là người giàu có về mặt vật chất. Ngoài xã hội, lúc nào cũng có những người đáng bậc thầy thiên hạ trong các ngành nghề và người ta đã thành công lừng lẫy trên thương trường khiến người khác cần học hỏi từ họ. Tuy nhiên, tôi có học về một lãnh vực chuyên môn. Tôi có nghiên cứu, có kinh nghiệm, và có sự thích thú để bàn về lãnh vực mà người Mỹ gọi là “The Art of Customer Service” (Nghệ thuật phục vụ khách hàng). Tôi muốn mang những hiểu biết của mình để mách cho những ai muốn tìm hiểu lãnh vực này, hầu người đó có thể tự thăng tiến trong các ngành nghề. (2)

Tôi có một cá tính có thể “không giống ai” đó là khi đứng trước một điều gì đó không hoàn hảo, thay vì chỉ trích, chê bai, hay ta thán, tôi thích góp phần sửa đổi, vun bồi, làm sao cho nó khá hơn, hay khởi sắc hơn. Thật sự, tôi không hài lòng về “khâu” tiếp đãi khách hàng từ các cơ sở thương mại của người Á Đông, đặc việt là người Việt Nam, và tôi có THAM VỌNG muốn góp phần cải sửa điều đó. Dĩ nhiên, tôi chỉ có thể chia sẻ những kiến thức này cho những ai muốn học hỏi, muốn có sự thay đổi để tự thăng tiến trong lãnh vực mà mình chọn. Tôi không thể dạy những người đã hài lòng về sự thành công của mình, và họ tự thấy không cần học hỏi thêm điều gì từ người khác.

Không ít người Việt Nam từng khen người Mỹ có cử chỉ và lời nói thân thiện với khách hàng trong lãnh vực thương mại. Những người này không tiếc lời chê người Việt Nam hay người Á Đông là không có lối tiếp khách ân cần như người Mỹ. Phe ta khen người bản xứ vui vẻ và chê phe mình mua bán mà có cái “bản mặt” không vui vẻ, nhưng rất tiếc chính những người có lời lẽ khen hay chê đó không rút ra được bài học cho chính mình.

Có phải người Mỹ tốt và tử tế hơn người Việt Nam? Không! Chắc chắn là không. Người Việt Nam của mình cũng tốt và cũng tử tế với mọi người giống như người Mỹ hay những dân tộc khác. Điểm khác biệt là nhiều người Mỹ được huấn luyện về môn “chiêu đãi” nhau, nhưng người Việt mình không mấy quan tâm đến điều này. Người Mỹ không chỉ học cho biết, nhưng họ mang ra áp dụng những điều họ học vào công việc hằng ngày.

Chính dân tộc Trung Hoa là tác giả của thành ngữ: “A man without a smiling face must not open a shop”. Tạm phỏng dịch: “Một người không có gương mặt vui tươi, chớ nên mở cửa hàng mua bán.” Cách giao thiệp hay chiêu đãi khách hàng của dân tộc Trung Hoa thế nào thiết nghĩ tôi không cần bàn tới bởi ai cũng đã biết, và “tùy người đối điện”.

Người ta không thể đổ thừa cho Thiên Chúa hay Ông Trời về tánh khí của mình. Đừng bao giờ khẳng định rằng, “Trời sanh tôi như thế” bởi ai cũng có thể chọn lựa để làm nên tánh tình của mình.

Bất cứ ai muốn có tánh thân thiện phải tập tánh thân thiện. Ai muốn có tánh ân cần và chu đáo, phải tập tánh ân cần và chu đáo với mọi người. Ai muốn có lời nói mềm mại và ân hậu phải tập cách kiềm hãm miệng lưỡi để khi cần mở miệng lời nói của mình được mềm mại và có ân hậu. Ai nuốn có phong cách bặt thiệp phải tập tánh bặt thiệp. Ai muốn có gương mặt tươi cười vui vẻ, chớ nên nhăn nhó trước những thứ không đáng nhăn nhó, và phải tập tánh tươi cười vui vẻ. Ai muốn có tánh can đảm phải tìm cách rèn luyện sự can đảm. Ai muốn lời nói của mình đáng cho người khác tin tưởng, người đó nên “hà tiện” lời nói dối cho dù những lời nói dối đó được cho là “vô hại”. Ai muốn trở thành người lịch lãm phải học những điều hay lẽ phải từ người khác để trở nên lịch lãm. Ngay cả những người có những biệt tài, nếu muốn có sự khiêm nhường, phải tìm cách đè đẹp tánh kiêu ngạo của mình. Dĩ nhiên, không ai có khả năng làm vừa lòng hết mọi người trong thiên hạ.

Kết luận
Chuyện vui chơi mà người ta còn tập luyện để đạt mục đích hoàn hảo, còn cách giao tiếp trong chuyện làm ăn, mua bán, làm chính trị, sinh hoạt tôn giáo, và các giao tiếp khác hằng ngày mà lẽ nào người ta lại xem nó không quan trọng. Bao nhiêu bằng chứng cho thấy, trong sinh hoạt hằng ngày, một ánh mắt thân thiện, một lời nói thân mật, và một hành động chí tình đã giúp mọi người giải quyết bao nhiêu chuyện khó khăn và những xung đột tưởng chừng vô phương “cứu chữa”.

Nói chung, ai muốn mình có những cử chỉ và lời nói khiến người khác thích giao du với mình, người đó phải tự học tập và phải kiên trì rèn luyện. Chắc chắn một bài nói chuyện hay một đề tài thuyết trình về một lãnh vực nào đó, người ta không thể nghe xong sẽ làm được ngay, nhưng nếu người ta ghi nhận những điều đó một cách nghiêm chỉnh và thường xuyên áp dụng vào đời sống hằng ngày, ai cũng có thể đạt được những điều mình mong muốn.

Huỳnh Quốc Bình
Email: huynhquocbinh@yahoo.com

Ghi chú:

  1. Tôi dự trù từ nay trở đi tôi sẽ dành thêm thì giờ để đến một số nơi nói miễn phí về đề tài này trong tinh thần mang phúc lợi chung cho cộng đồng người Việt.
  2. Ngày 7 tháng 5, năm 2023 tới đây tôi sẽ nói trong buổi tổ chức gây quỹ của Hội New Hope Media Network tại Portland, Oregon. Quý độc giả có thể tham khảo tại đây: http://www.newhopemedianetwork.net
Posted in Tác giả Huỳnh Quốc Bình | Leave a comment

Tôi Khoái Đi Chợ


Huỳnh Quốc Bình

Đi chợ là thú vui của tôi từ nhỏ đến giờ, nó vui giống như tôi được đi xem xi-nê hay xem cải lương thời tôi còn niên thiếu.

***


Sau khi ra đến hải ngoại, người ta thấy hình ảnh những đàn ông Việt Nam đi chợ mua thức ăn là chuyện bình thường, nó giống như thành ngữ, “chuyện thường ngày ở huyện” mà thôi. Hồi còn ở bên quê nhà, các “đấng mày râu” mà xách giỏ đi chợ hiếm lắm. Ai ở vào lứa tuổi học sinh hay thiếu niên mà xách giỏ đi chợ, sẽ được mọi người hiểu là tụi nó đi chợ cho mẹ hay cho chị. Riêng những thanh niên chững chạc, hay đàn ông có địa vị trong xã hội mà xách giỏ ra chợ mua thức ăn, chắc chắn thế nào thiên hạ cũng sẽ nhìn họ bằng cặp mắt “thương hại” bởi vì người ta cho rằng đây là những ông đang nuôi vợ đẻ, hoặc bị vợ đì mà thôi. Chính vì thế, đối với một số người Việt Nam, đàn ông mà đi chợ trông nó “nhược” làm sao ấy.

Bản thân tôi thì khác, thật sự tôi rất thích đi chợ mua thức ăn dù không được vợ nhờ hay “bị vợ đì”. Lúc tôi chưa về hưu, hằng ngày đi làm về, nếu không bị vợ réo về nhà gấp ăn tối với nàng và các con, tôi thường tạt ngang một chợ Việt hay Mỹ nào đó cũng được, để mua vài món thức ăn mang về bỏ trong tủ lạnh dù không được vợ sai hay vợ biểu. Được đi chợ ngắm món này, nhìn món kia, đối với tôi là một thú vui giống như người ta đi vào vườn hoa ngắm các cây kiểng. Tôi nói thật, không đùa.

Đi chợ mua thức ăn cho gia đình hay cho vợ con, chắc chắn không phải là nhược hay nhục theo cách suy nghĩ của một số đàn ông Việt Nam hay Á đông nói chung. Trái lại, theo tôi, đàn ông mà biết xách giỏ đi chợ là một hình ảnh đẹp của người chồng biết thương yêu vợ con nên muốn giúp đỡ vợ con.

Nhớ hồi nhỏ lúc tôi ở tuổi mới vào Trung Học, Dì Năm, em của Má tôi nhờ tôi cầm tiền ra chợ trao cho Dì Út đang mua bán ngoài chợ. Dì Năm cũng trao thêm cho tôi số tiền nhỏ để tôi mua vài món rau cải mang về cho dì ấy nấu nồi canh chua cho Ông Bà Ngoại và cả nhà ăn tối. Tôi nhớ thời đó, khoảng năm 1968, mấy bà nội trợ nấu nồi canh chua thật đầy đủ cá tôm cho khoảng năm bảy người ăn, không quá mười đồng. Thế mà nồi canh chua lần đó mấy bà dì của tôi phải tốn hơn mấy trăm đồng. Tức là tôi đã làm bay hết số tiền mà tôi có “sứ mạng” chuyển giao từ bà dì này qua tay bà dì kia. Lần đó tôi đã bị mấy người lớn sống bằng nghề cờ gian, bạc lận cám dỗ. Tôi đã thua sạch số tiền đó trong sòng tài-xỉu ở một đầu hẻm nhỏ gần chợ. Nhờ “nồi canh chua đắc giá” lần đó mà tôi nhớ đời, tôi nhớ đến bây giờ. Đó cũng là lần tôi dặn lòng mình là không bao giờ đặt chân đến hay bén mảng đến các chỗ cờ bạc, đỏ đen cho dù chỉ để mua vui vài mươi đồng hay vài mươi phút không đáng kể.

Thời niên thiếu tôi rất mong được người lớn sai đi chợ hay cầm cái tô cái chén đến tiệm tạp hóa gần nhà mua thêm những gia vị nấu ăn. Thường thường mấy dì hay nhờ tôi mua thêm tương, đường hay hành tỏi, nước mắm, nước tương, nhưng tôi khoái nhất là được nhờ đi mua đường. Loại đường nào tôi cũng được “hưởng” trước. Nếu là đường cát, thế nào tôi cũng tấp vô trong hẻm, quay mặt vô tường, mở gói đường ra le lưởi liếm một miếng. Nếu là đường mía, tôi không ngần ngại sử dụng ngón tay không mấy sạch của mình quẹt một miếng bỏ vào miệng và nuốt vội vào bụng để cho chất ngọt mang đến cảm giác đả thèm cho một thằng nhỏ thường thiếu thốn kẹo bánh như tôi. Phải nói rằng những lần “ăn chận” chất ngọt như thế nó sướng ơi là sướng, và ngon ơi là ngon đối với thằng nhóc thiếu chất ngọt như đã nói.

Lúc lớn khôn hơn một chút, tôi thường đem chuyện “ăn chận đường” kể cho mấy thằng bạn con nhà nghèo cùng xóm nghe và cả đám cười té ngữa bởi chúng nó từng làm điều đó trước tôi. Có thằng còn nói như là một thành tích rằng: “Tao đố cha thằng con nhà giàu nào có được cái thú giống như tụi mình”. Có thằng thì lành hơn chúng tôi, tức là nó không “ăn chận” mà chỉ mong được người lớn ra lệnh cầm chén đi mua đường mía mang về nhà và phần thưởng của nó là phần đường còn dính trong chén được mẹ hay chị nó đổ nước cơm sôi vào cho nó thưởng thức.

Viết đến đây tôi bổng nhớ đến những anh bạn của tôi thời niên thiếu. Tôi thật sự ngậm ngùi vì hình dung lại trong số bạn của tôi khi trưởng thành, nhiều anh đã hy sinh trong thời chiến chống VC xâm lược. Riêng tôi, bây giờ lưu lạc xứ người, tuổi đã cao, đời sống khá đầy đủ tiện nghi, trong nhà có đủ mọi loại thức ăn, kể cả mấy hủ đường đủ loại, nhưng tôi không bao giờ dám đụng đến chúng nó cho dù tôi chưa bị tiểu đường hay có lượng đường cao trong máu.

Trở lại chuyện đi chợ để khỏi lạc đề. Nếu chỉ nói trên phương diện đời sống bình thường của một con người bình thường, không nói chuyện thiêng liêng gì ở đây; xin thú thật, ngoài chuyện mê đọc sách báo và viết bài, tôi mê nhất là đi vào các chợ để mua vài món thức ăn như thịt cá hay rau cải mang về cho vợ. Đây là thú vui của tôi từ nhỏ đến giờ, nó vui giống như tôi được đi xem xi-nê hay xem cải lương thời tôi còn niên thiếu.

Sau khi ra hải ngoại, lúc chưa lập gia đình, lúc còn đi học và đi làm, công việc đi chợ không chỉ vì sở thích của tôi, mà thực tế, nếu tôi không tự đi chợ thì ai đi cho tôi? Tôi còn ý thức câu nói của người xưa “trai khôn tìm vợ chợ Đông” nên chợ là chỗ mà tôi nghĩ rằng con trai chưa vợ thỉnh thoảng cũng nên đến đó cho biết.

Tôi không gặp Nhà Tôi trong chợ như câu thành ngữ vừa nêu. Nhà Tôi là con gái lớn nhất trong một gia đình đông con. Ngày nay tôi và các con tôi được hưởng tất cả tài nấu nướng hay sự đảm đang mà nàng có lúc nàng còn là con gái lớn trong một gia đình đông con. Thực chất, Ba Má của Nhà Tôi có chủ trương hễ là con gái, ngoài chuyện học hành cũng phải biết chuyện nội trợ nữa.

Ông nào bị hay được vợ giao cho việc đi chợ cũng đều có kinh nghiệm giống nhau. Tức là hay bị mấy bà “rầy” một cách oan uổng. Khi tôi đi đâu, trước khi về nhà tôi có thói quen hay ghé vào chợ cho dù tôi chẳng có nhu cầu mua món gì cả. Vào chợ hễ thấy thức ăn nào mà tôi cho là ngon, tôi liền mua về cho gia đình thưởng thức. Nếu mọi người không thích, nhất là Nội Tướng của tôi mà không thích, tôi bị nàng cằn nhằn, “Ba cái thứ này, ba cái đồ yêu này ngon lành gì mà anh mua cho cố”. Nếu gặp loại ngon, tôi cũng bị “la” rằng, “Sao mà hà tiện quá vậy anh Hai, đồ ngon như thế này mà sao anh mua có ít xịu vậy?”. Nói chung, mua cách nào hay đường nào tôi cũng lãnh đủ hay “từ chết đến bị thương” với vợ con.

Tôi có chút bí quyết về vụ đi chợ, xin phép được chia sẻ với “phe ta”. Quý ông phải nhớ điều này: Vào chợ muốn chọn lựa đúng thức ăn ngon mang về nhà mà không bị vợ la, là khi vào chợ đừng vội mua. Găp lúc chợ đông người càng tốt. Hãy để ý mấy bà, mấy cô, nhất là mấy bác lớn tuổi lựa thức ăn. Hễ món nào họ cầm lên bỏ xuống lần thứ nhất, đừng chú ý. Nếu quý bà chọn món thứ nhì và quý bà cầm lên lật qua lật lại ngắm nghía vài giây, định bỏ vào giỏ nhưng lại thôi và chọn món khác hay cái khác. Xin phe ta hãy lấy món đó cho vào giỏ mình ngay là chắc ăn như bắp. Không ngon, không tươi, và không tốt, không lấy tiền. Tại sao tôi dám nói chắc nịch như thế? Lý do, quý bà đã chọn món nào lần thứ nhì, phần nhiều là tốt rồi, nhưng tại vì quý bà vẫn chưa hài lòng nên muốn tìm thêm cái khác. Vì tìm hoài nên có khi quý bà vớ nhằm cái tệ hơn mà thôi.

Trước khi kết luận bài viết này tôi xin phép kể một chuyện có thật liên quan đến việc “đẩy xe” thức ăn cho vợ đi chợ.

Tôi nhớ lâu lắm rồi, chắc khoảng năm 2005 gì đó, có lần vợ chồng chúng tôi đến chợ Việt Nam vào ngày cuối tuần để mua thức ăn cho cả nhà. Xin khai thiệt: Mỗi khi vào chợ tôi thường đẩy xe thức ăn “lót tót” theo sau gót chân vợ bởi vì tôi nghĩ rằng nàng có công nấu nướng, còn mình chỉ “giỏi ăn” nên có dịp là phải tìm cách giúp vợ hay nịnh vợ một chút cho vui cửa vui nhà. Lúc tôi đẩy xe thức ăn lòng vòng trong chợ, tôi gặp một “cao niên” Việt Nam. Ông là một cựu sĩ quan cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông qua Mỹ theo diện H.O. Vị này tôi từng hân hạnh quen biết trong sinh hoạt cộng đồng. Nghe đâu thời còn ở trong quân đội, ông là người từng chỉ huy cả tiểu đoàn và “hét ra lửa” nhưng trông ông rất hiền hậu. Lần gặp gỡ này ông cũng đẩy xe thức ăn cho vợ đi chợ giống như tôi. Sau mấy câu chào hỏi, ông lên tiếng trước rằng:

  • Qua Mỹ này đàn ông mình nhược quá anh Bình ơi.
  • Nhược cái gì thưa anh? Tôi hỏi.
  • Thì bọn đàn ông mình hay bị vợ sai vặt hoặc phải đẩy xe cho vợ đi chợ như anh thấy nè, chứ ở Việt Nam làm gì có chuyện này. Ông nói theo kiểu nửa đùa, nửa thật, và than thở.
  • Em nghĩ khác anh. Anh em mình mà được quý bà sai vặt, còn được đẩy xe thức ăn cho vợ đi chợ tức là anh em mình còn ngon đó chứ. Ông anh cứ tưởng tượng, nếu quý bà chẳng bao giờ nhờ anh em mình làm gì cả, hoặc khi quý bà đi chợ cũng không thèm nhờ anh em mình lái xe, hoặc đẩy xe thức ăn cho quý bà rảnh tay chọn lựa món này món kia, có phải anh em mình như thành phần bị phế thải, hoặc bị “vứt đi” hay sao?
    Nghe tôi nói xong, ông ấy cười vang và nói: “Gặp anh Bình, nghe anh nói khích lệ như thế khiến tôi lên tinh thần quá chừng. Thật là ấm lòng chiến sĩ”.

Kết Luận
Tôi viết bài này sau khi tôi đọc được bài “Đi Chợ Cho Vợ!” của tác giả K. Nguyên chứ tôi không có ý gửi gấm một điều gì thầm kín trong bài viết của mình. Quý độc giả có thể đọc bài viết ấy tại đây: https://aihuubienhoa.com/p122a1755/10/di-cho-cho-vo-k-nguyen

Hy vọng là bài viết này của tôi và của tác giả K. Nguyên sẽ phần nào an ủi những anh nào hay ông nào cảm thấy “xấu hổ” khi phải đi chợ cho vợ. Chồng mà được vợ nhờ là còn có phước đó. Đàn ông nào mà vợ không muốn nhờ hay không dám nhờ, thành phần đàn ông đó ngoài xã hội chắc chắn mọi người phải đành phải “bó tay” với họ mà thôi.

Hồi tôi còn nhỏ, lúc học tiểu học tôi hay bị ngoại la và mấy dì rầy. Sau khi lớn hơn tức là lúc học trung học tôi được về ở chung với gia đình, tôi tiếp tục bị má và chị mắng yêu rằng: Lớn lên mầy chỉ có nước làm mọi cho vợ chứ ai nhờ cậy được gì. Bây giờ khôn hơn, già hơn, và kinh nghiệm đời hơn, quả thật, tôi đang “làm mọi” cho vợ con mà vẫn “bị rầy” như ăn cơm bữa, chứ sá gì cái chuyện “đi chợ cho vợ” như tác giả K. Nguyên đã than.

Huỳnh Quốc Bình

Posted in Tác giả Huỳnh Quốc Bình, Đời Sống Quanh Ta | Leave a comment

Audio: Tình Yêu Thương!

Bài giảng 24 phút (DT) St.
Đề tài: Tình Yêu Thương
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

 

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Muốn Phát Tài Phải “Loại” Chúa Ra

Huỳnh Quốc Bình


Người thật sự có Chúa không thể là kẻ ăn lường, ở lận, gian xảo, điêu ngoa, tham lam, ích kỷ, và có những hành động đê tiện.

***


Vào những này đầu năm Âm Lịch tức là thời điểm người Việt Nam đón mừng Tết Cổ Truyền của dân tộc mình, chúng tôi thấy nhiều người có thói quen chúc nhau “Năm mới phát tài” bên cạnh những lời chúc lành khác. Trong tinh thần này, người viết cũng xin mượn hai chữ “phát tài” để lạm bàn chuyện tiền bạc cho vui.

Liên quan đến chuyện phát tài, người viết có nghe một câu chuyện nói về một người nhận mình là người “Được Chúa xoa đầu”. Số là tại Thành Phố San Diego hay một vùng phụ cận nào đó của thành phố này thuộc Tiểu Bang California, có một mục sư Việt Nam rất thành công về mặt vật chất và chức vụ trong Hội Thánh Tin Lành Việt Nam và Hoa Kỳ. Ngay từ vài thập niên trước, ông mục sư này từng tạo được nhiều căn nhà hay chung cư cho mướn. Trong số tài sản về địa ốc đó, ông có một căn nhà gần một triệu Mỹ kim. Ông hãnh diện mời các mục sư và tín hữu trong vùng đến để xem nhà mới lộng lẫy của ông. Trong lúc gọi mời mọi người, thông điệp mà ông gởi ra là: Hãy đến để thấy “Chúa xoa đầu tôi”. Ý ông muốn nói sự giàu có của ông là một cái phước mà ông cần phải “khoe mình trong Chúa”.

Khi suy nghĩ kiểu đó và dám nói ra như vậy, chúng tôi nghĩ ông mục sư này đang đi trên mây bởi vì không lẽ chỉ “mình ên” ông “được Chúa xoa đầu” còn quý mục sư, tín hữu chân chính khác “bị Chúa đá đít” hay sao? Thảo nào mà ông này vừa giữ chức cao trọng Hội Thánh lại vừa có dư thì giờ để tạo ra nhiều tiền mua nhà và chung cư cho đám dân nghèo và “những kẻ bị Chúa đá đít” mướn, cũng không có chi là lạ.

Một ông “mục sư” khác được xem là thất bại trong chức vụ bởi vì ông phạm nhiều thứ tội lăng nhăng khác. Ông ta cứ đòi các con phải mua xe đắt tiền, tức là loại “luxury”để ông lái hầu cho mấy mục sư khác không khinh ông. Chúng tôi không biết trường Kinh Thánh nào đã đào tạo ông này, và nhà thờ hay giáo phái nào đã “rờ đầu” tấn phong chức vụ cho ông? Làm tới chức “sư” mà còn nghèo nàn hay dốt về cách nhận xét cuộc đời đến thế. Tư cách và nhân cách của con người mới đáng trọng chứ đâu phải do lái xe sang trọng, mới là đáng trọng. Người có nhân cách và tư cách, không ai cướp được hay hạ được cái tư cách hay nhân cách của họ. Nhân cách hay tư cách là của mình có được và chính mình mới có thể tự đánh mất nó. Người khác không thể ban tặng nhân cách cho mình, hoặc giáo hội có thể rờ đầu phong cho chúng ta. Người có địa vị trong xã hội, lái xe xịn, ở nhà lầu, tiền bạc dư thừa trong ngân hàng chưa chắc là người có nhân cách hay liêm sỉ.

Người có nhân cách và lòng tự trọng đều công nhận rằng: Vật chất chỉ là phương tiện sống của con người chứ nó không phải là thước đo về mặt đạo đức của con người. Một kẻ có nhiều tiền lắm bạc nhưng mà là tiền ăn cắp, của cải gian lận, hay tài sản ăn cướp từ người khác, chắc chắn nhân cách của kẻ đó không thể hơn một người tuy nghèo nhưng có đời sống thanh bạch.

Có những thành phần, hễ mở miệng ra là nói toàn chuyện thiêng liêng. Có dịp là họ nói “Chúa”, “Chúa”, hay “A-men”, hoặc “Mô-Phật” hay “A-di-đà-Phật” không ngớt lời; thế mà khi cần dở thủ đoạn gian dối, kể cả những người từng ngồi tù vì các trọng tội cũng chưa chắc qua mặt được nhóm người này.

Ai cũng có thể phạm tội hay có lỗi lầm, nhưng khi đã phạm tội, người đó phải biết ăn năn. Có những kẻ phạm tội tham lạm tiền bạc và bị bắt quả tang, thay vì cúi đầu nhận lãnh, bọn này lại làm lơ, bất chấp những thắc mắc của những người tử tế. Một điều có thể gọi là chướng tai, gai mắt nhất khi người ta phải nhìn thấy bọn này tiếp tục mượn bục giảng, toà giảng, hay sử dụng khuôn viên nhà thờ, chùa chiền, và thánh thất để nói chuyện đạo đức, thiêng liêng một cách hết sức lố bịch.

Đọc đến đây có thể ai đó cho rằng người viết thấy người ta giàu rồi ganh ghét chăng? Xin thưa, giàu không phải là cái tội và giàu không có gì đáng ghét. Ai có nhiều tiền lắm bạc bằng những phương cách làm thương mại chân chính không có gì là xấu. Có khi người khác cũng cần phải học phương cách làm giàu của những người đó nếu mình muốn chọn con đường giàu có về mặt vật chất đời này.

Trong xã hội, người ta thấy một bác sĩ, một thương gia, một tài tử, hay nghệ sĩ nổi tiếng có nhiều tiền lắm bạc là chuyện bình thường. Chứ còn kẻ nào nhận mình là “đầy tớ của dân” mà dân nghèo “mạt rệp” còn những kẻ đó giàu “nứt trứng” mới là bất thường. Thiết nghĩ ai đã đi tu hay chọn làm công tác từ thiện mà có nhiều nhà lầu, biệt thự, chung cư cho mướn, xe hơi loại đắc tiền, có công ty, có nhiều tài sản từ Việt Nam ra đến hải ngoại, dứt khoát phải cho người ta thắc mắc chứ.

Trên đời này không phải điều nào cũng đúng hay cũng tốt, cho nên Kinh Thánh khuyến cáo con dân Chúa là, “Đừng làm theo đời này, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào” (Rô-ma 12:2). Ai chọn làm theo đời này, nhiều phần sẽ nghịch lại với Thánh Kinh. Thí dụ, kẻ nào muốn phát tài theo kiểu bất chính, dứt khoát kẻ đó phải loại Chúa ra khỏi đời sống của mình. Người thật sự có Chúa không thể là kẻ ăn lường, ở lận, gian xảo, điêu ngoa, tham lam, ích kỷ, và có những hành động đê tiện.

Con dân Chúa vẫn có thể phạm tội nhưng không thể phạm tội triền miên hay theo loại “ủ tội” giống như người ta ủ hèm để nấu rượu. Nếu không loại Chúa ra, người ta không thể làm giàu bất chính. Nếu không loại Chúa ra, người ta không thể gian dối trong mua bán. Nếu không bỏ Chúa ở nhà, người ta khó mà đến sóng bạc để “thử thời vận”. Nếu để Chúa cùng đi trên xe với mình, mình không thể đi cùng người khác phái theo kiểu mờ ám vì người đó không phải là người phối ngẫu của mình. Nếu không “đuổi” Chúa ra khỏi phòng lạ, người ta làm sao phạm tội tà dâm? Nếu để Chúa trước mặt, người ta khó mà ăn nói theo kiểu mất dạy hay vô cớ nguyền rủa người khác. Nếu không coi thường sự hiện diện của Chúa trong mỗi buổi thờ phượng Ngài, người ta khó mà làm chứng dối hay làm chứng về những ơn phước thuộc loại xác thịt cho được.

Phước của Chúa không phải là loại phước về vật chất hay địa vị cao trọng ngoài đời hay trong giáo hội. Phước của Chúa phải là những thứ phước “từ chết đến bị thương” giống như mấy vị linh mục hay mục sư bên Việt Nam đang xổng lưng giảng về chân lý của Chúa, bảo vệ lẽ công chính, bênh vực người thấp cổ bé miệng, và cáo trách tội ác để cuối cùng họ phải chấp nhận sự trả thù tàn độc từ kẻ ác.

Phước của Chúa không phải chờ mỗi Chúa Nhật leo lên bục giảng hay toà giảng để nói lời thiêng liêng nửa vời và dạy cho người khác những điều mà mình không bao giờ làm được. Phước của Chúa là biết chọn vào “con đường hẹp” như lời Đức Chúa Jesus đã phán, “Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít” (Ma-thi-ơ 7:13-14).

Ai có đọc Thánh Kinh Sách Ma-thi-ơ 5: 3-10 đều biết rõ trong “Bài Giảng Trên Núi” của Chúa Cứu Thế Jesus. Ngài giảng về tám phước lành, không hề có cái phước nào về vật chất cả.

Kết luận
Nếu ai xem sự giàu có mới là cái phước hay thích phát tài theo kiểu bất chính, dứt khoát người đó phải “loại Chúa ra”, mới dễ dàng có được.

Để đừng ai hiểu lầm, người viết xin nói rõ trong phần kết luận này. Chúa cho những con dân Ngài thành công trên phương diện nào đó như địa vị ngoài xã hội hay sự giàu có là để góp phần hầu việc Ngài chứ không để trở thành kẻ gian manh hay nô lệ cho sự thành công đó. Nếu ai nhận mình là con dân Chúa mà chỉ thích làm theo đời này, thích của cải đời này, thích ngụp lặn trong bể lợi danh, thích đắm chìm trong vật chất, thích hãm hại người hiền theo kiểu ném đá dấu tay, và dửng dưng trước nỗi khổ đau hay sự đói nghèo của người khác, người đó hãy coi chừng, đó là cái họa đấy.

Huỳnh Quốc Bình
email: huynhquocbinh@yahoo.com

Posted in Tác giả Huỳnh Quốc Bình | Leave a comment

Audio: Những Điều Cần Tìm Trong Năm Mới

Bài giảng 23 phút (DT) St.
Đề tài: Những Điều Cần Tìm Trong Năm Mới
Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

 

Quý vị sẽ có dịp nghe nhiều điều ít ai muốn đụng đến bởi vì nó rất dễ mất lòng người khác hay gây khó chịu cho giáo quyền.

Vài điều Con Dân Chúa cần suy nghĩ trong ngày đầu năm:

Ai chỉ lo xây Nhà Thờ cho thật to, thật lớn để được nổi tiếng, để báo cáo thành tích với cấp lãnh đạo của giáo hội…

Ai chỉ lo miệt mài trong các trường thần học để lấy cho bằng được những bằng cấp thật cao, thật oai mà lại lơ là trách nhiệm thiêng liêng Chúa giao, hoặc công việc mà mình đã nhận lãnh…

Bất cứ ai, bất chấp những lời than thở của con chiên, của tín hữu về các hành động quá trớn của mình, mà cứ lo bảo vệ các cái ghế cao trọng trong giáo hội hoặc những nơi gọi là hội thánh…

Bất cứ ai thường xuyên ra vào Việt Nam với những lý do không chính đáng, hoặc để đú đởn ăn chơi với kẻ gian, với chế độ độc tài trong vỏ bọc giảng đạo, từ thiện… Mà cố tình làm ngơ, hoặc dững dưng trước nỗi khổ đau, những tiếng rên siết của anh chị em cùng niềm tin và đồng bào mình thì…

Nhân ngày đầu năm, cũng nên suy gẫm lại lời của KT:
“… kẻ biết làm điều lành mà chẳng làm, thì phạm tội.” (Gia-cơ 4: 17)

Hoặc:

Chúa Cứu Thế Jesus đã khuyến cáo:
“… Hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ, vì ấy là luật pháp và lời tiên tri.” (Ma thi ơ 7: 12)

Quý vị còn nghe thêm nhiều điều mà ít ai muốn đụng đến bởi vì nó rất dễ mất lòng người khác hay gây khó chịu cho giáo quyền.

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Audio: Sau Ngày Lễ Giáng Sinh

Bài giảng 23 phút (DT) St.

Đề tài: Sau Ngày Lễ Giáng Sinh!

Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment

Chọn Thiên Đàng Hay Hỏa Ngục?

Huỳnh Quốc Bình

Hỏa ngục không phải là nơi dành cho loài người mà là cho ma quỷ. Ai muốn linh hồn mình được sống đời đời trên Thiên Đàng hay sa xuống hỏa ngục đều do sự chọn lựa của người đó.

***

Bài viết này trình bày về niềm tin vào Đức Chúa Trời nhưng không dành để lôi kéo người đọc theo một tôn giáo bởi vì người viết không có nhu cầu đó. Nếu ai là người đang có sự sợ hãi, buồn lo, chán chường, tuyệt vọng và muốn tìm cầu sự bình an thật, hạnh phúc vĩnh cửu, xin vui lòng đọc tiếp để biết rõ Đức Chúa Trời phán điều gì.

Ngoài những kẻ vô thần, bất cứ ai thuộc niềm tin tôn giáo nào cũng đều dễ dàng đồng ý rằng: Đời người thật ngắn. Thân xác loài người sẽ trở về cát bụi sau khi chết, nhưng linh hồn thì vĩnh cửu. Nếu ai ý thức rằng mình có những yếu đuối, bất toàn, và ai đó muốn tìm hiểu là sau khi mình qua đời, linh hồn mình sẽ về đâu, bài viết này sẽ giải bày điều đó dựa theo căn bản của Thánh Kinh.

Theo lời Thánh Kinh, Thiên Đàng là tặng phẩm của Đức Chúa Trời dành cho loài người. Tuy nhiên, không phải ai cũng được vào đó bởi vì tổ phụ loài người đã phạm tội cùng Chúa. Linh hồn của một người được vào Thiên Đàng hay sa xuống hỏa ngục đều tùy thuộc vào sự chọn lựa của người đó lúc còn tỉnh táo và đang sống trên trần gian này. Đức Chúa Trời đã bày tỏ trong Thánh Kinh, hỏa ngục không dành cho loài người biết ăn năn mà cho ma quỷ trong ngày phán xét của Ngài.

Hầu hết các tôn giáo đều dạy con người phải ăn hiền, ở lành, và tu thân tích đức. Những điều này theo tiêu chuẩn con người rất tốt, nhưng theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa toàn năng hoàn toàn khác. Những việc làm lành hay công đức của con người tạo ra chỉ là cái áo nhớp hay miếng giẻ rách trước mặt Ngài. Thánh Kinh chép, “Tất cả chúng con đều trở nên như vật ô uế, mọi việc công chính của chúng con như miếng giẻ bẩn thỉu; tất cả chúng con đều khô héo như chiếc lá, và tội ác chúng con như gió lùa mình đi” (Sách Ê-sai 64:6).

Theo tiêu chuẩn của con người, việc định nghĩa chính xác về hành động tốt hay xấu của một cá nhân chỉ là tương đối và thường thiếu chính xác. Theo chúng tôi, người được xem là tốt là người chưa bị lộ những điều xấu. Thật sự, theo tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, trên trần gian này chẳng có ai là người tốt cả. Thánh Kinh đã khẳng định, “Chẳng có một ai công chính cả, dù một người cũng không” (Sách Rô-ma 3:10).

Trong phạm vi tôn giáo, có lẽ mọi người đã từng nghe lời dạy rằng, chính con người phải tự diệt cho bằng được các tánh xấu hay tội lỗi để có thể vào một nơi vĩnh cửu nào đó. Đại ý những thói hư, tật xấu, và tội lỗi đó là: Tham lam, ích kỷ, ganh gét, đố kỵ, có hành động ngu muội, ác độc, vui chơi quá độ, tức giận, gian dâm, thù hằn, và căm ghét. Chưa hết, lời dạy đó còn cho rằng: Không ai cứu được linh hồn mình mà chính mình phải làm điều đó. Nếu “kiếp này” mình không diệt xong các thứ xấu, hay tội lỗi, phải chờ “kiếp sau” diệt tiếp. Nếu “kiếp sau” hay “các kiếp kế tiếp” mình không diệt được, muôn đời phải bị trầm luân hay đắm chìm trong bể khổ.

Nghe qua những tiêu chuẩn trên, có ai dám khẳng định những suy nghĩ và việc làm hằng ngày của chính mình đã diệt được cái gì trong số tật xấu hay tội lỗi đó rồi? Thành quả “diệt” của mình có đáp ứng được tiêu chuẩn nào đó không? Giả sử nếu có kiếp sau, mình có dám bảo đảm là mình diệt khá hơn không? Đó là những câu hỏi, thiết nghĩ con người nên suy gẫm để biết mình cần làm gì trước khi quá muộn.

Người viết hân hạnh đọc và học những lời dạy trong Thánh Kinh được mặc khải từ Thiên Chúa, và những điều đó có liên quan đến vấn đề “sống chết”, “tự diệt”, và “tự cứu”. Theo lời Thánh Kinh, con người không còn một “kiếp” nào khác mà chỉ có duy nhất “một đời” trên trần gian này. Loài người được sanh ra và chết trong tội lỗi, nhưng chết chưa phải là hết. Ai cũng ngại chết hay sợ chết, nhưng chưa ai thoát khỏi sự chết. Thánh Kinh khuyến cáo, “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét. (Sách Hê-bơ-rơ 9:27).

Ai có quyền phán xét? Thánh Kinh đã bày tỏ, “Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần để xóa bỏ tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban ơn cứu rỗi cho những người trông đợi Ngài” (Sách Hê-bơ-rơ 9:28).

Đấng Christ là ai? Xin thưa, Ngài là Đức Chúa Jesus. Ngài là Đấng Cứu Thế. Thánh Kinh chép rằng, “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Sách Phúc Âm Giăng 3:16).

Theo lời Thánh Kinh, Đức Chúa Jesus là Con Trời. Ngài là Ngôi Hai trong Chúa Ba Ngôi. Ngài đã giáng trần qua mẹ phần xác là Nữ Đồng Trinh Ma-ri, người nữ được Đức Chúa Trời chọn để thụ thai Đức Chúa Jesus bởi Đức Thánh Linh. Chúa Ngôi Hai được sanh ra như bao nhiêu hài nhi khác. Ngài lớn lên, chịu nhục hình trên thập tự giá, và Ngài đã chết. Ngài được chôn trong mộ. Đến ngày thứ ba, Ngài đã sống lại và thăng thiên. Thánh Kinh cho biết, Đức Chúa Jesus chết vì tội của nhân loại, trong đó có quý vị và chúng tôi.

Dĩ nhiên, không phải ai cũng dễ dàng tin những điều nêu trên; vì thế, Thánh Kinh đã căn dặn trước, “Như vậy, đức tin đến từ những điều người ta nghe, mà người ta nghe là khi lời của Đấng Christ được rao giảng” (Sách Rô-ma 10:17). Chúng tôi đang làm công việc rao giảng để những ai chưa nghe, chưa biết có thể nghe và biết. Phần còn lại do người nghe tự quyết định.

Xin trở lại vấn đề “tự diệt” để “tự cứu”. Chúng tôi tin chắc là mình không thể tự diệt và tự cứu. Lý do, bản chất của con người là bất toàn, và muôn đời sẽ là bất toàn. Bất cứ ai cũng có thể tự tra xét hay cật vấn lương tâm để xem những gì mình làm từ trước đến giờ và sau này, liệu những điều đó có giúp mình đủ tiêu chuẩn để một Chân Thần nào đó có thể dung dưỡng mình hay không?

Giả sử, nếu ngoài Đức Chúa Trời ra, còn một “chân thần” nào khác, lẽ nào chân thần đó lại chấp nhận những lễ vật hối lộ từ những con người tội lỗi ở trần gian? Đức Chúa Trời, Thiên Chúa hay còn gọi là Ông Trời, chỉ cần lòng thành của con người chứ không cần con người dâng lễ vật theo kiểu hối lộ bởi vì Ngài là Chân Thần. Trong đời sống hằng ngày, người ta đã thấy không ít kẻ mang tiền gian, bạc lận, của hối lộ, đồ vật ăn cắp, của cải ăn cướp từ những người khác để dâng, để cúng vào những nơi mà những kẻ đó tin rằng “thiêng liêng”. Chắc chắn chỉ có ma quỷ hay tà thần mới nhận sự hối lộ từ những kẻ gian ác như vậy.

Ma quỷ không phải là chuyện ảo tưởng mà là thật, và ma quỷ cũng có quyền năng riêng của nó. Nếu ma quỷ không có quyền năng để đáp ứng sự van vái của con người, chẳng ai bị lừa. Công việc của ma quỷ là chống nghịch lại Đức Chúa Trời bằng cách khuyến dụ và lừa gạt con người làm theo con đường của chúng nó để linh hồn con người bị hủy diệt đời đời. Chỉ có ma quỷ mới dối gạt con người, nhất là những người dị đoan mê tín. Ma quỷ sẵn sàng nhậm lời van vái hay cầu xin của những ai chạy theo các vấn đề có tính cách xác thịt đời này. Dĩ nhiên, sự đáp lời của ma quỷ trông rất linh thiêng nhưng chỉ là tạm bợ. Người tin nó sẽ lọt vào vòng kiềm tỏa và kiểm soát của nó, và kết quả sẽ là sự chết đời đời dành cho những ai chọn dây dưa với chúng.

Ai có lòng muốn tìm kiếm Chân Thần chắc chắn sẽ gặp. Như chúng tôi đã nói, Đức Chúa Trời, Đấng đã tạo ra loài người và vũ trụ này mới thật sự là Chân Thần. Khi ai đã đầu phục Đức Chúa Trời, người đó sẽ lập tức có sức mới từ Ngài. Sức mới đó khiến cho ma quỷ không còn khả năng khống chế người đó nữa. Khi còn tại thế, Đức Chúa Jesus đã phán, “Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ, cửa sẽ mở cho các con. Vì hễ ai xin thì được; ai tìm thì gặp; và ai gõ thì cửa sẽ được mở” (Sách Phúc Âm Ma-thi-ơ 7:7-8).

Đọc đến đây, chắc có người sẽ nghĩ thầm: Tôi chưa thấy Chúa làm sao tôi tin? Xin thưa, nếu chúng ta đã thấy điều gì rồi, đó không còn là đức tin mà chỉ là sự công nhận hay chối bỏ. Những người tin vào quyền năng của Chúa là do họ tự ý thức về sự giới hạn và bất toàn của mình, hoặc họ được Đức Thánh Linh cảm động lòng họ. Cũng có thể do họ ngắm nhìn và hiểu biết về sự kỳ diệu của thân thể con người, nhất là trật tự của vũ trụ do Đấng có quyền năng cầm giữ. Điều này cũng giống y như có người đã nhận xét: Con người chỉ có thể thấy sức mạnh hay năng lực của dòng điện, chứ chưa ai thấy điện có hình dáng hoặc màu sắc của nó ra sao bao giờ. Thánh Kinh chép lời phán của Đức Chúa Jesus về điều này rằng, “Phước cho những người không thấy mà tin!” (Sách Phúc Âm Giăng 20:29b). Nhiều tỷ người trên trần gian này, trong đó có chúng tôi, đã tin và đã nhận được phước này.

Liên quan đến chuyện “làm lành, lánh dữ”, chúng tôi không thể quên nhắc đến một nhân vật rất đặc biệt được Thánh Kinh đề cập. Người đó là một người Do Thái có quốc tịch La Mã tên là Phao-lô. Ông Phao-lô là người hiểu luật, giữ luật và có quyền lực thời bấy giờ. Ông từng bắt bớ và giết nhiều người tin vào sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Jesus. Dù vậy, Ông Phao-lô đã bị Chúa bắt phục. Sau khi người trở thành sứ đồ của Đấng Cứu Thế, người đã cật lực góp phần loan truyền Đạo Chúa khắp nơi.

Sứ Đồ Phao-lô từng tuyên bố, “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi” (Sách Ga-la-ti 2:20). Trước khi Thánh Phao-lô tử đạo, người từng than thở rằng, “Vả, tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi, bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn; vì tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn” (Sách Rô-ma 7: 18-19).

Nếu có ai cho rằng mình phải tự cứu lấy linh hồn mình bằng những việc làm có tính cách phước thiện và công đức đời này, người đó cũng nên biết về sự khuyến cáo của Thánh Kinh, “Vì nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều này không đến từ anh em mà là tặng phẩm của Đức Chúa Trời” (Sách Ê-phê-sô 2:8).

Không ít người đã nói rằng tôi được cha mẹ sanh ra, và tôi đã có một tôn giáo riêng. Tôi không thể theo một tôn giáo nào khác, nhất là nghe những người ngoại quốc chiêu dụ tôi ruồng bỏ đạo của mình. Thật sự, đạo của người Việt Nam chính là Đạo Thờ Trời chứ không có đạo nào khác là của riêng người Việt Nam. Đạo Thờ Trời của người Việt Nam hết sức phù hợp với những gì Thánh Kinh bày tỏ. Trước nhà của nhiều người Viêt Nam chúng ta có bàn thờ “Ông Thiên”. Ông Thiên này là Đức Chúa Trời trong Thánh Kinh. Nhiều câu ca dao Việt Nam cũng nói lên chúng ta thờ phượng Đức Chúa Trời từ ngàn xưa như, “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày.” Hoặc “Lạy Trời mưa thuận gió hòa.” Khi khổ đau hoặc tai nạn, chúng ta cũng kêu “Trời ơi, cứu con với”. Chúng ta thờ Trời trước tất cả các tôn giáo khác du nhập vào đất nước chúng ta.

Tin thờ Đức Chúa Trời không có nghĩa là gia nhập một tôn giáo theo kiểu ăn hiền, ở lành, hoặc tu thân tích đức để tự cứu. Công đức của con người không thể cứu được linh hồn mình như Thánh Kinh đã khuyến cáo, “Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác, vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta nhờ đó mà được cứu” (Sách Công vụ 4:12).

Hệ thống các tôn giáo, kể cả những tập hợp của những người gọi Đức Chúa Trời là Cha, vẫn không cứu được linh hồn con người trên trần gian này. Muốn được cứu về phần linh hồn, con người cần công khai tiếp nhận sự cứu rỗi từ Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Jesus. Ai tin và đầu phục Chúa sẽ được Ngài biến đổi người đó từ một tội nhân trở thành con dân Ngài. Đức Chúa Jesus phán, “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những ai tin danh Ngài” (Sách Phúc Âm Giăng 1:12).

Con dân Chúa không phải là những người hoàn hảo, mà là những tội nhân đã được Chúa tha tội. Con dân Chúa cố sống theo lời Chúa mỗi ngày để tìm kiếm sự nên thánh. Nếu có ai nhận mình là con dân Chúa mà vẫn tiếp tục phạm tội, đó là vấn đề của cá nhân người đó. Thiết nghĩ, người ta không thể vì tội lỗi của người khác mà khiến cho linh hồn mình phải sa vào hỏa ngục chỉ vì quyết định từ chối sự cứu rỗi từ Đức Chúa Trời toàn năng.

Thánh Kinh đã bày tỏ: Ai tin và tiếp nhận Đức Chúa Jesus làm Cứu Chúa của mình, lập tức tội người đó được tha và linh hồn người đó được cứu. Tiếp nhận Chúa để linh hồn được cứu rỗi sau khi lìa trần và nhận được sự bình an thật khi còn sống trên trần gian. Nếu ai là người đang đau khổ, tuyệt vọng, và không có sự bình an, xin người đó hãy kêu cầu danh Chúa bởi vì Đức Chúa Jesus đã hứa, “Ai tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh-thánh đã chép vậy” (Sách Phúc Âm Giăng 7:38).

Tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là quan trọng nhất. Việc đến nhà thờ hay thánh đường để cùng mọi người thờ phượng Chúa là đến từ tấm lòng khao khát và vui mừng vì mình muốn được chiêm nghiệm quyền năng kỳ diệu của Đức Chúa Trời. Con dân Chúa không thể đi nhà thờ theo kiểu “trả lễ” giống như một người chỉ thuần túy theo một tôn giáo. Tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời không có nghĩa là cầu nguyện hay van vái điều gì cũng được nhậm theo kiểu con người dùng lễ vật để hối lộ những thần của thế gian để mong được như ý.

Chúng tôi xin lặp lại điều quan trọng này: Ai tiếp nhận sự cứu rỗi từ Đức Chúa Trời, tội người đó được tha, linh hồn người đó được cứu sau khi lìa trần. Đặc biệt, khi người đó còn sống trên trần gian này sẽ được Chúa ban cho sự bình an thật dù phải đứng trước hoàn cảnh hay nghịch cảnh nào.

Chưa hết, người tin và tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời sẽ biết rõ Ngài dạy gì về trách nhiệm và lòng hiếu thảo đối với tổ tiên, ông bà, và cha mẹ. Thánh Kinh không hề dạy con người xem thường hay ruồng bỏ người bề trên. Thánh Kinh dạy con người phải tuyệt đối kính trọng và phụng dưỡng ông bà, cha mẹ lúc các vị ấy còn sống chứ không chờ khi các vị qua đời rồi mình mới thờ cúng và vái lạy họ để bày tỏ lòng hiếu thảo hay xin xỏ “phép lạ” từ người đã chết.

Kết luận
Đối với những ai đang có sự bất an, đau khổ, hoặc tuyệt vọng, xin hãy nghe lời kêu gọi của Đức Chúa Jesus, “Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến với Ta, Ta sẽ cho các ngươi được an nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; hãy gánh lấy ách của Ta và học theo Ta thì linh hồn các ngươi sẽ được an nghỉ. Vì ách Ta dễ chịu và gánh Ta nhẹ nhàng” (Sách Phúc Âm Ma-thi-ơ 11:28-30).

Nếu ai muốn tiếp nhận Chúa, xin làm ngay, đừng chờ ngày mai. Cái ngày gọi là “ngày mai” có khi nó không còn đến với bất cứ ai trong chúng ta nữa.

Làm thế nào để tiếp nhận Chúa? Xin thưa, rất đơn giản nhưng phải có lòng thành. Con người chỉ cần mở miệng mình ra và thưa trình với Chúa vài lời ngắn gọn giống như người con thưa chuyện với cha của mình. Chúng tôi xin gợi ý: Lạy Chúa, con tin rằng con là kẻ có tội. Con tin Đức Chúa Jesus là Con Trời. Ngài là Ngôi Hai trong Chúa Ba Ngôi. Con tin rằng Ngài đã giáng trần và chết thay cho tội lỗi của loài người, trong đó có con. Xin Chúa thương xót linh hồn con. Xin Chúa tha tội cho con và nhận con làm con cái của Ngài. Amen!

Sau khi quý vị cầu nguyện xong, quý vị có thể liên lạc với người trao cho quý vị quyển sách bé nhỏ này để người đó giải thích thêm và cùng đồng hành với quý vị trong niềm tin Thiên Chúa. Nếu quý vị muốn một người nào cùng cầu nguyện với mình, xin vui lòng liên lạc với quý mục sư, hay tín hữu Tin Lành nào tại địa phương, hoặc người viết bài này để chúng tôi hân hạnh giúp quý vị làm điều đó.

Cầu xin Đức Chúa Trời nhân từ ban phước đặc biệt cho những ai đọc đến dòng chữ này. Amen!

Huỳnh Quốc Bình, Giáo Sĩ Tin Lành

Chương Trình Phát Thanh “Đời Sống An Bình”
Email: doisonganbinh@yahoo.com

P.O. Box 20361
Keizer, OR 97307. USA

Ghi chú: Bài viết này được in thành quyển sách nhỏ theo kiểu bỏ túi, chỉ có 32 trang với phông chữ 14 để người đọc có thể dễ dàng theo dõi. Sách biếu, không bán. Tuy nhiên, nếu ai có lòng hảo tâm muốn ủng hộ chi phí in ấn, chúng tôi rất hoan nghênh.

Posted in Tác giả Huỳnh Quốc Bình | 2 Comments

Bàn Về Thái Độ Vô Ơn!

Huỳnh Quốc Bình

…Bọn người vô ơn là cái bọn thách thức, bẹo gan, và bỉ mặt đồng hương Việt Nam tị nạn cộng sản, khi chúng chọn làm ăn và giao du với đảng cướp Vc trong vị trí của một viên chức chính quyền bản xứ…


Tiếng Việt rất phong phú bởi vì từ ngữ phân biệt rõ ràng. Ai có lòng biết ơn người, tiếng Việt gọi là “Người biết ơn”, kẻ nào dễ dàng quên ơn người bị gọi là “Đồ vô ơn”. Bài này được viết vào mùa “Lễ Tạ Ơn” (Thanksgiving), nhưng lúc nào quý bạn đọc cũng có thể đọc được. Người viết muốn có dịp trình bày một số điều theo kiểu nói ra cũng ngại, nhưng im lặng cũng không xong.

Mỗi mùa “Lễ Tạ Ơn”, các Tín Hữu Tin Lành hay Giáo Dân Công Giáo, nói chung là Thiên Chúa Giáo, có dịp chứng kiến những vị lãnh đạo trong giáo quyền viết bài dài sọc, hoặc giảng lê thê về ý nghĩa của ngày Lễ Tạ Ơn và tinh thần tạ ơn. Bao nhiêu câu Kinh Thánh liên quan đến hai chữ “tạ ơn” từ sách Sáng Thế Ký cho đến Khải Huyền đã được mang ra trưng dẫn để hỗ trợ cho những bài giảng luận. Tuy nhiên, chuyện đáng buồn là những điều tốt đẹp đó chỉ được lặp đi lặp lại hằng năm, nhưng ngay những người hùng hồn giảng dạy về điều đó cũng không thiếu những thành phần thuộc loại “vô ơn Trời” và “bạc bẽo với Người”. Đứng trước hiện tượng đó, lòng chúng ta thấy buồn, nhưng điều này cũng không có chi là lạ bởi vì Kinh Thánh đã có khuyến cáo trong sách 2 Ti-mo-the 3 (một vài ý chính): Trong ngày sau rốt sẽ có những thời kỳ khó khăn. Vì người ta đều tư kỷ, tham tiền, vô tình, thù người lành, lừa thầy phản bạn… Cho nên, thái độ vô ơn của một số người hay nhiều người là chuyện đương nhiên phải xảy ra. Theo tôi, nếu ai đó, bị người khác phản bội, vẫn còn hạnh phúc hơn khi mình trở thành kẻ phản bội hay “đồ vô ơn”.

Trong mùa lễ, mọi người dành để tạ ơn Trời và cảm ơn người. Thiết nghĩ, mỗi người trong chúng ta cần phải nghiêm chỉnh suy xét lại từng hành động của mình qua đời sống hằng ngày cho đến khi mình tắt thở. Kẻ nào có thái độ quên ơn Trời và bội ơn người không thể nào được xem là người tốt, hay người “ có đạo” biết kính Chúa và yêu người một cách chân thật, nhưng đáng liệt vào hạng “đồ vô ơn”. Nói như vậy chắc có người sẽ khó chịu hoặc thắc mắc: Ai là “đồ vô ơn”? Xin thưa! “Đồ vô ơn” cũng khá đông, nhưng tôi chỉ xin tạm liệt kê khoảng mười tám điểm tiêu biểu để hầu quý bạn đọc:

  1. “Đồ vô ơn” – là thứ bạc bẽo với ông bà, cha mẹ giống như câu ca dao, “Mẹ nuôi con như Biển Hồ lai láng, con nuôi mẹ, tính tháng tính ngày”. Thành phần này luôn ung dung tự tại, sống trong nhung lụa với vợ con, hay chồng con của mình, để mặc cha mẹ sống trong túng quẫn, cô đơn, cả năm không thăm viếng được một lần, giống y như câu vè, “Mẹ già hết gạo treo niêu, mà anh khăn đỏ khăn điều vắt vai”. Họ không quên cha mẹ, bỏ ông bà luôn đâu; bằng chứng là có người chờ đến khi ông bà, cha mẹ qua đời rồi mới bày tỏ lòng hiếu thảo. Họ tranh nhau xây mộ ông bà, cha mẹ to lớn như lăng tẩm. Có đứa xây rồi nhưng vì mộ ông bà, cha mẹ của người cùng làng, cùng xóm xây sau to hơn, nên chúng phải đập phá xây lại, hầu có thể trội hơn “lòng hiếu thảo”. Đúng là khi cha mẹ còn sống để ở “nhà lá”, chết thì cho ở “nhà lầu”.
  2. “Đồ vô ơn” – là kẻ nhẫn tâm ruồng bỏ anh chị em của mình, gồm những người từng giúp đỡ, cưu mang mình thời niên thiếu, lúc mình sa cơ thất thế, nhưng khi mình trở thành những nhà khoa bảng, đạt được danh vọng trên đường đời, rồi tự thấy mình văn minh, còn anh chị em mình là bọn thất học cần phải xa lánh, hầu giữ được thanh danh của “con dòng, cháu giống”, quý phái, và sang trọng.

“Đồ vô ơn” – là kẻ nhẫn tâm phản bội người phối ngẫu sau khi đạt được những bằng cấp và địa vị trong xã hội. Họ được như thế là nhờ công lao của vợ, của chồng, nhưng họ đã vội quên. Vì có học, vì sang trọng nên họ bổng thấy vợ mình hay chồng mình “không giống ai” cần phải ly dị. Họ không còn thấy hợp khẩu, hợp tánh, hợp kiến thức, và hợp chuyện gối chăn, nên đã làm công việc “giàu đổi bạn, sang đổi vợ”.

“Đồ vô ơn” – là những người từng bị Vc giam cầm trong các nhà tù, vợ nhà một lòng thủy chung “chờ đợi anh về”, nhưng sau khi được tự do và ra hải ngoại, họ lại nhẫn tâm ruồng bỏ vợ nhà hay “vợ già” để tìm vợ trẻ, vợ đẹp, hay vợ sang. Có người “khéo léo” hơn, họ ra vào Việt Nam bằng các vỏ bọc “báo hiếu”, “từ thiện”, và “niềm tin tôn giáo”, nhưng thực chất là để hưởng thụ. Họ về Việt Nam để du hí với những cô gái trẻ đáng tuổi con cháu mình; đây là những cô gái vì nghèo khổ nên phải bán tiết trinh cho những ông già dư tiền trợ cấp xã hội, hoặc hưu trí, cần có bồ nhí trong tuổi hồi xuân.

“Đồ vô ơn” – là thành phần nhờ chồng, nhờ cha, nhờ ông bà của họ, nên họ mới ra được hải ngoại, nhưng khi “đủ lông, đủ cánh”, họ vội quay lại xem thường chồng, xúc phạm cha, ruồng bỏ ông bà chỉ vì những vị đó không còn sự hào hùng thời trẻ tuổi, hay không còn “hào quang” như xưa để con cháu có thể dựa hơi, hay nhờ cậy.

“Đồ vô ơn” – là cái bọn dám xem thường Thầy cũ, hoặc người chỉ huy ngày xưa sau khi trở thành người có địa vị trong xã hội tại hải ngoại. Có kẻ đã không ngần ngại lên án cha anh mình là “ngu dại để cho nước mất nhà tan”. Bọn này dù nhiều hay ít cũng nhờ lá phiếu của người tỵ nạn để có vị trí trong chính quyền bản xứ, nhưng chúng đã vội quên ơn lá phiếu của cử tri. Chúng không ngại sử dụng quyền tự do ngôn luận tại các nước dân chủ, để trịch thượng mạt sát cha anh của chúng là chỉ giỏi biết chuyện “bóp cò súng” chứ biết gì chuyện chính trị của thời đại mới.

Có những đứa thuộc con nhà có đạo mấy đời gọi Thiên Chúa là Cha, thế mà khi ra tranh cử chúng lại đi đại diện cho cái đảng quái đản tại Hoa Kỳ. Đây là cái đảng có những chủ trương tận diệt thai nhi và làm những điều phản lại Kinh Thánh. Chúng đã ngang nhiên chà đạp những gì Chúa phán để chọn những thứ tạm bợ của đời hầu có thể tiến thân. Chúng nhẫn tâm “đâm sau lưng” chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Chúng thách thức, “bẹo gan”, và bỉ mặt đồng hương Việt Nam tị nạn cộng sản, khi chúng công khai hay lén lút đón tiếp cán bộ Vc tại hải ngoại. Chúng muối mặt trở về Việt Nam làm ăn hay giao du với đảng cướp Vc trong vị trí của một viên chức chính quyền bản xứ. Chúng bất chấp việc làm tổn thương về mặt tinh thần cho những nạn nhân Vc đang sống những ngày cuối đời tại hải ngoại.

  1. “Đồ vô ơn” – thích “quơ đũa cả nắm” khi có lời lẽ trịch thượng, xúc phạm ngay cả những người từng đổ máu xương để bảo vệ miền Nam. Trong thời điểm “máu người khác đổ, xương người khác phơi” để cho họ và gia đình được tự do thong dong đến nhà thờ, thánh đường, chùa chiền, thánh thất bày tỏ sự “thiêng liêng”, và tuyên bố “không làm chính trị”. Thành phần này có cơ hội học hành, đạt nhiều bằng cấp trong xã hội; khi giặc đến cái đám này vội dẫn bầu đoàn thê tử giành giật để được lên phi cơ hay xuống tàu lánh nạn cộng sản trong thời điểm đen tối nhất của dân tộc vào ngày 30-4-75. Nhờ sự hy sinh bằng chính máu xương của bao người đã giúp cho bọn này còn sống sót để ra hải ngoại tiếp tục hùng hồn tuyên bố “tôi không làm chính trị” hay “tôi không thích chuyện chính trị” như đã nói.
  2. “Đồ vô ơn” – là cái đám chỉ thích tụ năm, tụ ba để lý luận suông, và hay nổi gân cổ bàn cãi chuyện thời cuộc bên ly cà phê, chén trà chứ không hề bỏ ra một cắc, một xu, hoặc tốn một giọt mồ hôi cho chuyện chung của cộng đồng, của đất nước. Bọn này không tiếc lời miệt thị, chê bai thậm tệ những người có lòng vì đại cuộc đã hy sinh, hay chưa thành công.
  3. “Đồ vô ơn” – là thành phần vội quên những người từng bảo lãnh, giúp đỡ lúc mình chân ướt chân ráo, đến vùng đất tự do để lánh nạn cộng sản, bằng nhiều hình thức sau ngày 30-4-75; hoặc những năm gần đây họ được rời khỏi Việt Nam bằng đủ mọi loại “ưu tiên” để cho đời sống bớt cơ cực và cho tương lai con cháu sau này. Lúc mới ra hải ngoại, họ trông bèo nhèo, rất đáng tội, và rất dễ thương, nhưng sau khi ăn nên làm ra, lại phách lối, kiêu căng, điệu hạnh, và vênh mặt với cả những người đã từng ân cần tiếp đãi, hay mang mình đến vùng đất tự do. Có đứa sau khi “chân mới vừa hết phèn” đã ra vẻ cao sang, quý phái, thích nói ngoại ngữ hơn tiếng Việt, và quay lại khinh thường luôn cả ân nhân mình. Có kẻ còn kỳ thị ngược lại người bản xứ, gọi người bản xứ là tụi Mỹ, tụi Tây, và cho rằng “chúng nó ngu”, hoặc “không ra chi” nên cả đời phải ở chung cư hay nhà mướn.
  4. “Đồ vô ơn” – là kẻ nhanh chóng quên ơn chồng mình hay vợ mình, từng có công mang mình ra khỏi nơi đói nghèo, lạc hậu, luôn bị chế độ độc tài khủng bố tinh thần, để đến một nơi thật sự có tự do, với đời sống sung túc bằng tình yêu chân thật chứ không phải theo kiểu mua bán ái tình. Có đứa chóng quên quá khứ, phản bội người phối ngẫu một cách dễ dàng, thích nói cái giọng “tanh tanh” như thể mình từng là ông hoàng, hay bà chuá lúc còn ở Việt Nam. Hình ảnh này không khác chi loài bướm không có lương tri, nên sau khi có được màu sắc rực rỡ lại quên rằng nó từng có những ngày là con sâu xấu xí.
  5. “Đồ vô ơn” – là những tên lúc nào cũng nói giọng nhân nghĩa, đạo đức nhưng lại ruồng bỏ vợ con, mang tiền về Việt Nam cưới vợ khác, trẻ hơn, đẹp hơn, và đem ra hải ngoại, sử dụng như những nô lệ. Sau khi chán chê, “vứt đi” một cách tàn độc bằng các mánh khoé hay kẽ hở của luật pháp.
  6. “Đồ vô ơn” – là những đứa xem cha mẹ chồng, cha mẹ vợ, hoặc cha mẹ ruột đang ở trong nhà mình như thể những “đầy tớ giữ nhà”, có bổn phận phải làm tất cả công việc như người ở đợ để trừ nợ, hay để được ăn chén cơm thừa, cá cặn, trong lúc tuổi già bóng xế. Bọn này là thành phần có lẽ hồi còn nhỏ thiếu sự giáo dục của cha mẹ nên không hề biết trân quý công khó của người khác, hoặc biết kính trọng và thương yêu người có tuổi.
  7. “Đồ vô ơn” – là cái phường nịnh bợ bọn Vc khi quay lại miệt thị, chỉ trích bừa bãi chính phủ hay quốc gia từng chia sẻ đời sống tự do với chúng. Bọn này không ngần ngại lên án chính quyền nơi chúng định cư một cách vô tội vạ. Giống như tại Hoa Kỳ, có những tên hồ đồ lớn tiếng nguyền rủa nước Mỹ như kẻ thù của Mỹ. Bằng chứng là có kẻ đã reo hò khi thấy nước Mỹ bị bọn khủng bố quốc tế tấn công. Hành động này y hệt thái độ phản trắc của đám cướp trong đảng Vc tại Việt Nam ngày nay.
  8. Đồ vô ơn – chúng có trí nhớ tồi tệ đến độ sau khi thành công, sau khi đạt được điều mình mong muốn, sau khi no cơm, ấm áo, hoặc đỏ da thắm thịt, chúng lại vội quên ơn người khác, quên luôn cái thời hàn vi của mình để rồi trở nên hống hách và kiêu ngạo. Có đứa đê hèn đến nỗi thẳng tay “đâm sau lưng” những người từng giúp đỡ, cưu mang mình trong các chức vụ, vị trí quan trọng ngoài đời hoặc trong giáo hội.
  9. “Đồ vô ơn” – là cái đám muốn mình trông “thiêng liêng” hơn người khác nên hùng hồn tuyên bố rằng tôi “không làm chính trị” hoặc “không dính dấp đến chính trị”, hoặc tỏ ra xem thường, lên án ngay cả những người từng tranh đấu cho mình được ra khỏi nhà tù Vc. Có đứa lúc còn ở Việt Nam từng xòe tay nhận tiền những người có lòng với công cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ tại Việt Nam, nhưng khi được tự do, chúng không hề biết nói một lời bênh vực nạn nhân của Vc, trái lại còn “đâm sau lưng chiến sĩ”. Chúng “khôn ngoan” chui sâu, trèo cao. Chúng xa lánh những ân nhân của chúng, hầu không bị vạ lây vì cái tội “giao du” với những người “làm chính trị”.
  10. “Đồ vô ơn” – là cái đám nhờ đồng hương Việt Nam tại hải ngoại mà ăn nên làm ra, nhà cao, cửa rộng, con cái học hành đổ đạt thành tài nhưng không hề biết ơn những người đóng thuế cho gia đình mình hưởng. Bọn này mang tiền về Việt Nam móc ngoặc làm ăn với Vc. Chúng thích ra vào Việt Nam theo kiểu “áo gấm về làng”, hoặc về Việt Nam ngồi chung bàn, ăn chung mâm, tiệc tùng đú đởn ăn chơi với đảng cướp Vc qua các vỏ bọc từ thiện, tôn giáo, hoặc báo hiếu ông bà cha mẹ. Bọn này luôn từ chối tranh đấu, hoặc công khai cầu nguyện cho đất nước Việt Nam hay cầu nguyện cho các nạn nhân của Vc. Đám người này cũng né tránh lên tiếng qua các thỉnh nguyện thư để đòi hỏi ôn hoà cho sự tự do của người khác dù bản thân mình cũng từng sống sót là do máu người khác đã đổ ra. Chúng luôn ngoảnh mặt làm ngơ khi chế độ Vc vẫn ngày đêm ngang nhiên cướp của, giết người, tạo bao nhiêu cảnh oan khiên tại Việt Nam. Chúng để mặc cho nhiều người nhẹ dạ và người ngoại quốc tiếp tục tưởng lầm rằng Việt Nam đã có thay đổi, đảng cướp Vc đã biết “ăn năn”. Bọn này dễ dàng tin tưởng kẻ gian nhưng lại nghi ngờ những người tử tế. Chúng thích làm thinh trước điều quấy, để mặc cho kẻ gian quậy phá cộng đồng. Chúng thích sử dụng những phần tử bất hảo để tấn công những ai không thuộc phe nhóm của chúng. Chúng không dám hy sinh đời sống cá nhân vì đại cuộc. Chúng sợ Vc hơn cả Thiên Chúa hay ông Trời. Chúng thích ngồi nhà công khai hoặc nặc danh viết bài nguyền rủa, xách mé những nhân sĩ có lòng, những vị lãnh đạo tôn giáo đáng trọng, những cá nhân yêu nước bằng những từ ngữ ác độc như “tội đồ dân tộc”, “đại bịp”, “giả hiệu” hoặc “dỏm”.
  11. “Đồ vô ơn” là cái tập đoàn “khôn nhà, dại chợ” mơ hồ và nhu nhược với kẻ thù Vc nhưng lại hung hãn với anh chị em cùng “một nhà” và cùng chung lý tưởng. Đám này thẳng tay loại trừ những người tử tế đã từng “sống chết” với mình cho mục tiêu cao cả, nhưng nay có sự bất đồng về đường lối đấu tranh. Bọn này có hành động y như thái độ bất nhân của đám lãnh đạo Vc, hèn với giặc Tàu nhưng lại ác với dân.
  12. “Đồ vô ơn” – là những tên lợi dụng lòng tốt của người khác để trục lợi, nhờ đồng hương ủng hộ nên công việc thương mại được phát triển nhanh chóng. Chúng “trả ơn” khách hàng hay thân chủ bằng cách bất chấp luật pháp của người và của Trời để lợi dụng lòng tin hay sự dễ tính của người khác hầu tìm kiếm những đồng tiền bất chính. Có kẻ sử dụng vị trí lãnh đạo để cấu kết nhau gian lận tiền bạc và hại người. Dù bị vạch mặt hay bị “sa lưới”, chúng không bao giờ biết thức tỉnh ăn năn. Chúng vẫn tiếp tục sử dụng những nơi thờ tự của các tôn giáo để trâng tráo nói điều “thiêng liêng” hầu có thể dối đời, gạt người, và xúc phạm Đấng Thượng Đế bởi những việc làm tồi tệ của chúng.

Kết luận: Người biết ơn Trời hay nhớ ơn người là thành phần xứng đáng cho chúng ta làm bạn, xứng đáng cho chúng ta kính trọng, và xứng đáng cho chúng ta học hỏi. Đồ vô ơn, bạc bẽo, không thể là người có đủ tư cách làm “cha”, làm “thầy” hay làm “sư”, hoặc “lãnh đạo” người khác, hoặc làm bạn với ai. Thái độ vô ơn là cung cách của phường “ăn cháo đá bát”, thiếu lòng tự trọng mà người đời gọi là “đồ vô ơn”.

Nói về lòng biết ơn hay thái độ vô ơn, có một câu truyện trong sách Phúc Âm Lu-ca 17 như sau: Có mười người bị phong cùi, họ nài xin Chúa Cứu Thế Jesus chữa lành cho họ và Chúa đã thương xót mà phán cho họ được lành bệnh. Kết quả, chỉ có một người duy nhất trở lại tạ ơn Ngài, còn chín người kia thì biệt tăm, khiến Ngài phải thốt lên rằng, “Không phải mười người đều được sạch cả sao? Còn chín người kia ở đâu? Chỉ có người ngoại quốc này trở lại ngợi khen Ðức Chúa Trời ư!” (câu 17-18). Chúa Cứu Thế Jesus hỏi và chắc chắn Ngài cũng đã có câu trả lời: Chín người kia đang sống lẫn lộn trong xã hội loài người ngày nay.

Cầu xin Đức Chúa Trời ban cho quý độc giả và tôi có ý thức về lời Kinh Thánh hầu chúng ta không trở thành những con người mà người đời gọi là “đồ vô ơn” giống như chín người phong cùi đó, hay ít nhất những kẻ nằm trong 18 điểm mà tôi vừa liệt kê trong bài viết này.

Huỳnh Quốc Bình
Ngày 21 Tháng Mười Một, năm 2022
E-mail: huynhquocbinh@yahoo.com

Posted in Tác giả Huỳnh Quốc Bình, Đời Sống Quanh Ta | Leave a comment

Xoá Nợ Thẻ Tín Dụng


Huỳnh Quốc Bình

… Nghe đến hai chữ xoá nợ, có lẽ quý bạn đọc sẽ phì cười vì yếu tố phi lý của nó, nhưng đây là những điều “khó tin nhưng có thật”…


Bài viết “Xoá Nợ Thẻ Tín Dụng” nhằm mục đích mách cho những ai vì hoàn cảnh không còn khả năng trả nợ thẻ tín dụng biết cách “Làm lại cuộc đời”. Xin đừng ai vì nghe nói “Xoá nợ” được, rồi mang hết thẻ tín dụng ra “cà xã láng” để sau đó tìm cách xoá nợ, là điều không phài và cũng không nên làm. Nếu có ai cố làm như thế chắc chắn cũng không phải xoá dễ dàng với cái hồ sơ gây nợ nhanh chóng như thế. Riêng vấn đề giảm nợ là một chuyện khác và người ta thấy quảng cáo thường xuyên trên các phương tiện truyền thông Mỹ-Việt.

Nhắc đến vấn đề giảm nợ, cũng nên nói đến vấn đề khai phá sản (file bankruptcy) trước khi nói đến chuyện xoá nợ.

Có Hai Loại Nợ
Nợ có thế chấp (secured debt) và nợ không có thế chấp (un-secured debt). Nợ thế chấp giống như hồi còn ở quê nhà, khi cần tiền người ta mang nữ trang, đồng hồ đến tiệm cầm đồ, thế chân mượn tiền rồi sau đó lần lượt trả góp với tiền lời theo kiểu “cắt cổ”. Tại Hoa Kỳ, khi cần tiền người ta có thể mang nhà hay xe để thế chân mượn tiền ngân hàng. Nợ không thế chấp là loại nợ mà những người có “uy tín” thiếu nợ. Họ được các ngân hàng cấp cho những cái thẻ nhựa được mang tên Visa, Master Card v.v… Chủ của các thẻ này có thể mượn tiền từ ngân hàng, hoặc mua sắm trước rồi trả sau, với phần tiền lời cao thấp tuỳ theo “uy tín” của từng người, từng loại thẻ và từng trường hợp. Ai thiếu nợ nhiều, trả tiền lời tử tế, ngân hàng thay nhau gửi thẻ về mời. Khi mất việc làm, hay làm ăn thất bại không còn khả năng trả nợ, lập tức thẻ không còn sử dụng được. Loại nợ không thế chấp này khi không còn khả năng trả nợ, chủ nợ không thể đụng đến tài sản của con nợ, ngoại trừ chủ nợ kiện thắng con nợ ngoài toà án. Nếu con nợ bị phán quyết (Judgment) từ tòa án nên phải lần lượt trả nợ tuỳ theo lợi tức của mình. Vấn đề này rất dài dòng, nó không phải là mục tiêu người viết muốn bàn đến trong bài này.

Khai Phá Sản
Người thiếu nợ ngân hàng nhưng không còn khả năng trả, họ công khai nhờ văn phòng luật sư hay những văn phòng chuyên môn giúp mình khai khánh tận tài sản. Khi điều này xảy ra, chủ nợ được lệnh toà án phán quyết phải huỷ bỏ số nợ cho con nợ có cơ hội làm lại từ đầu. Sau khi được toà án phán quyết, chủ nợ nào còn tiếp tục làm phiền con nợ sẽ xem như vi phạm luật pháp. Dĩ nhiên, người khai phá sản không phải chỉ mất uy tín 10 hay 15 năm, nhưng mà “dấu tích” thiếu nợ đến phải khai khánh tận sẽ theo đuổi người đó suốt đời.

Giảm Nợ
Có nhiều văn phòng quảng cáo về dịch vụ lo thủ tục giảm nợ cho những ai sử dụng thẻ tín dụng và thiếu nợ ngân hàng, nhưng vì hoàn cảnh không còn khả năng trả nợ. Thực chất, không cần phải có văn phòng chuyên môn lo thủ tục xin giảm nợ, nợ sẽ được giảm, mà con nợ chỉ cần “dửng dưng” trước những thư đòi nợ của ngân hàng một thời gian, lập tức ngân hàng sẽ phải điều đình với con nợ bằng cách đề nghị giảm 30%, hoặc 50%. Có truờng hợp ngân hàng “năn nỉ” con nợ để giảm số nợ gần đến 60-70%. Nếu con nợ nào “lạnh cẳng” hoặc “cảm động” mà hứa hẹn trả nợ, ngân hàng có dịp “dzớt cú chót” được một ít từ con nợ. Dĩ nhiên, trường hợp này cũng giống như khai phá sản, tức là phải mất uy tín. Cho dù hoàn cảnh thế nào đi nữa, khi thiếu nợ mà không có khả năng trả nợ, mất uy tín là chuyện đương nhiên không cần lý giải.

Đọc đến đây hẵn quý độc giả đã thấy rõ là chuyện có uy tín, thiếu uy tín, hoặc mất uy tín như chuyện trở bàn tay. Thiếu nợ có tiền trả đúng hẹn, uy tín tăng cao. Trả nợ không đúng hẹn, uy tín giảm xuống. Không còn khả năng trả nợ, mất uy tín là cái chắc, cho dù chuyện nợ nần giữa cá nhân với nhau hay với các ngân hàng.

Xoá Nợ Cho Người Khác
Thường tình, chỉ có ông bà và cha mẹ mới xoá nợ cho con cháu vì tình thương, chứ anh em với nhau cũng chưa chắc. Ngày nay, chuyện xoá nợ là chuyện có thật nhưng thường xảy ra giữa các quốc gia từng giao thương với nhau. Dù vậy, việc xoá nợ luôn dính dấp đến yếu tố chính trị. Vì tính liên lập, vì sự hỗ tương giữa các quốc gia để bảo vệ quyền lợi, người ta thấy quốc gia giàu mạnh đã phải xoá nợ cho những quốc gia nghèo. Vì nếu không xoá, cũng không thể làm gì khác hơn hay làm gì nhau.

Người viết xin thử nêu ra một trường hợp vay mượn và quý độc giả tự suy nghĩ cho vui. Thí dụ: Ông A thiếu ông B một vài ngàn Mỹ kim, ông A là con nợ, ông B là chủ nợ. Ông A thiếu ông B vài chục ngàn Mỹ kim, ông B vẫn là chủ nợ của ông A, và cũng có thể ông A rất kiêng nể ông B. Thế nhưng, ông B để ông A thiếu mình số nợ lên đến vài trăm ngàn, hay vài triệu Mỹ kim thì khác à. Tôi dám nói mà không sợ sai: Đến non nước này chưa chắc ai ngán ai? Ai là chủ nợ, ai là con nợ? Cuộc đời là vậy, những nghịch lý, cay đắng, phũ phàng, và ê chề thường đến với mọi người chứ không chỉ riêng ai.

Xoá Nợ Thẻ Tín Dụng Với Ngân Hàng
Nghe đến hai chữ xoá nợ, có lẽ quý bạn đọc sẽ phì cười vì yếu tố phi lý của nó, nhưng đây là những điều “khó tin nhưng có thật”. Khó tin là vì thiếu tiền ngân hàng, làm sao mà xoá? Thiếu nợ người ta mà đòi xoá là nghĩa làm sao? Cái mấu chốt của vấn đề xoá nợ nó có những cái lắc léo sau đây:

Khi ngân hàng cứu xét cho người nào đó được làm chủ những thẻ tín dụng (credit card), người đó toàn quyền mua sắm thoả thích. Hằng tháng, người đó có thể trả tối thiểu (minimum) theo mức định và tiền lời cho ngân hàng. Có ngân hàng “chơi bảnh”, ai sử dụng nhiều sẽ được thưởng nhiều (rewards). Để bảo đảm tình trạng thất thoát khi thân chủ của ngân hàng không có khả năng trả nợ nên ngân hàng phải mua bảo hiểm cho số tiền ấn định mức tối đa (maximum) từ một hãng bảo hiểm nào đó.

Khi người sử dụng thẻ tín dụng không còn khả năng trả nợ, ngân hàng sẽ gửi thư đòi. Đòi năm bảy lần bằng cách gửi thư hoặc gọi điện thoại để nhắc. Kết quả “ê chề” khi con nợ “chơi tình lờ” không thèm trả nên ngân hàng phải “xuống nước” điều đình. Ngân hàng dư sức biết rằng, người ta chỉ có thể nắm đầu “người có tóc” chứ không ai có thể nắm tóc “kẻ trọc đầu”. Lúc này chính là lúc ngân hàng sẽ lên tiếng mở đường cho con nợ “thoát hiểm” bằng cách giảm số nợ xuống 30%, hoặc 50%, có khi đến 60-70% như đã nói. Sở dĩ ngân hàng phải “xuống nước” đến cở đó là vì họ sẽ nhận được sự bồi thường của hãng bảo hiểm. Họ biết chắc là hãng bảo hiểm sẽ phải trả cho họ sau khi họ đòi được phần nào hay phần đó theo chỉ thị của hãng bảo hiểm.

Nếu gặp con nợ thuộc loại “lì đòn”, ngân hàng sẽ bán cái nợ này cho mấy ông bà đòi nợ mướn (Debt Collectors) với giá rất “bèo” theo kiểu “tàu bể lượm đinh”. Lúc này những tay đòi nợ mướn sẽ rất “hung hăng con bọ xít”. Ngoài chuyện gởi thư đòi nợ, họ cũng gọi điện thoại liên tục để khủng bố tinh thần con nợ. Có những tay đòi nợ mướn còn hăm kiện con nợ ra toà. Nếu con nợ yếu bóng vía nên xin thương lượng, thì đó là lúc con nợ bắt đầu “trúng tên” của mấy tên xác thủ.

Đừng bao giờ nhẹ dạ mà ký vào bất cứ giấy tờ do những công ty đòi nợ mướn cung cấp. Đừng bao giờ hứa trả tiền cho những cá nhân hay công ty đòi nợ mướn cho dù là hứa trả một xu mỗi tháng. Nên nhớ, khi người mắc nợ ký tên, tức là mình đã tình nguyện cung cấp thêm dữ kiện cá nhân của mình cho họ. Đừng quên, những kẻ đòi nợ mướn chỉ có khả năng hù dọa chứ không có tư cách làm phiền người mắc nợ.

Nếu con nợ có người cố vấn, biết rõ luật lệ nên “mách nước”, con nợ có thể bắt đầu tung chiêu để phản công bằng cách “dõng dạc” ra lệnh cho mấy tay đòi nợ mướn phải chấm dứt việc làm phiền họ, nếu không họ sẽ kiện và kẻ đòi nợ mướn phải vác chiếu ra toà, đừng trách. Quý bạn đọc chỉ cần vào Google, đánh hàng chữ này, “debt collector harassment lawsuit”, tha hồ mà đọc các tài liệu về vụ này. Thực tế, đã có những công ty đòi nợ mướn đã bị con nợ kiện ra tòa vì tội quấy nhiễu họ (Debt Collector Harassment).

Nếu có kẻ chuyên sống bằng nghề đòi nợ mướn, chắc chắn cũng có những dịch vụ chuyên giúp thân chủ của họ ngăn chận bọn này (Stop Collection Abuse). Mà cũng dễ hiểu thôi bởi vì con nợ thiếu tiền chủ nợ, cho nên chỉ có chủ nợ mới có quyền đòi hay có đủ tư cách nói chuyện với con nợ. Nếu muốn đòi nợ mướn hợp lệ và hợp pháp phải có giấy uỷ quyền. Mà làm sao họ có giấy uỷ quyền, bởi “Bố bảo”, các ngân hàng cũng không dám uỷ thác hay uỷ quyền bằng giấy trắng mực đen cho mấy tay đòi nợ mướn. Trên thực tế, ngân hàng đã được hãng bảo hiểm bồi thường. Hồ sơ không còn ai thiếu nợ mình, làm sao uỷ quyền cho ai? Cái lắc léo nó nằm ngay chỗ này.

Nếu con nợ muốn xổng lưng phản công “đối phương”, dứt khoát phải có “võ công” và phải biết rõ chỗ nhược của đối thủ. Muốn có võ, phải học. Muốn học, phải có thầy. Muốn có thầy, phải đi tìm. Tìm ở đâu? Xin thưa là ở mấy vị rành rẽ về luật tố tụng xoá nợ (Consumer Law Of Debt Elimination). Những văn phòng lo về vụ này sẽ cố vấn cho thân chủ biết cách đối phó với những tay đòi nợ mướn và ngăn chận những cú điện thoại làm phiền thân chủ họ (How to deal with debt collectors and stop harassing calls).

Nên nhớ, mình đã khổ vì thiếu nợ, cho nên đừng để ai khác làm mình mắc thêm một mối nợ khác. Ở Mỹ những ai cố tình không cung cấp tiền trợ cấp cho con cái (Child support ), hay không trả nợ thuế sau khi tòa án phán quyết mới bị ngồi tù, chứ không ai bị bỏ tù chỉ vì không trả nợ cho mấy kẻ đòi nợ mướn.

Có nhiều người được cố vấn để đối phó với mấy văn phòng đòi nợ mướn, hoặc xoá sạch số nợ họ có thiếu ngân hàng. Thực chất, các ngân hàng đã được hãng bảo hiểm bồi thường rồi. Do đó, nếu dược bồi thường rồi mà còn đòi nợ người khác, tình không ngay mà lý cũng gian. Con nợ thoát được là ngay kẽ hở này chứ không có gì cao siêu hay khó hiểu.

Kết luận
Khai phá sản hoặc giảm nợ chắc chắn phải bị mất điểm tín dụng, tức là mất uy tín với nhà băng (bad credit). Xoá nợ đúng cách và sau khi đạt kết quả, không mất uy tín, hoặc điểm tín dụng chỉ bị thấp thôi, bởi trên nguyên tắc, ngân hàng đã được bồi thường. Ba công ty Credit Bureau Equifax, Experian, và TransUnion không hề biết điểm là gì. Các công ty này chỉ chuyên thu thập dữ liệu, thu thập điểm, những giao dịch của mọi người để cho biết cái xấu, điểm tốt của thiên hạ mà thôi. Riêng các ngân hàng, vì họ không còn bằng chứng người ta thiếu nợ mình nên không thể nói đến điểm cao hay điểm thấp của người ta. Đó là chưa kể, nếu con nợ thừa thắng xông lên quay lại kiện ngân hàng, và cho dù ngân hàng có nhiều cố vấn, có nhiều luật sư đi nữa, họ cũng trở thành miếng mồi ngon cho những tay “sát thủ” có cơ hội nhảy vào vòng chiến mà gây sự để kiếm “chút cháo”. Các ngân hàng biết rõ mình là loại chén kiểu, còn các con nợ là chén đá, hay gáo dừa. Khi va chạm nhau, đứa nào “banh xác” trước thì biết? Đó là lý do các ngân hàng không ngu gì đi đụng với con nợ khi mà quyền lợi của họ không hề bị mất, hoặc sự thất thoát đã được đền bù một cách thoả đáng.

Tuy nhiên, để khỏi phải bị phiền toái sau này, người viết đề nghị quý độc giả nên mang thẻ tín dụng ra cắt làm đôi và ném hết nào thùng rác là xong. Mang nó trong người khác nào mang cục nợ đời. Hãy vẫy tay chào nó một lần cho đời không phải khổ sau này.

Huỳnh Quốc Bình
Ngày 17 Tháng Mười Một, năm 2022
Email: huynhquocbinh@yahoo.com

Ghi chú:

  1. Bài này được viết năm 2012 và đã được đăng tải trên Phương Đông News tại Oregon để lạm bàn về những quảng cáo “Xóa Nợ Xấu Thẻ Tín Dụng” trên bác cơ quan truyền thông Mỹ và Việt. Gần đây có người nhắc đến chuyện “xin giảm nợ” hay “xóa nợ” nên tôi xin bổ túc vài điểm cho rõ hơn, hầu giúp những ai chẳng may lâm vấp nợ nần từ thẻ tín dụng biết đường mà đối phó cho hợp tình, hợp lý, và hợp pháp. Xin chúc mọi người may mắn.

2. Riêng quý bạn đọc tại Hoa Kỳ: Ai bị mất việc làm hay muốn đổi nghề, muốn làm một công việc nhàn hạ và chuyên nghiệp do những người thành công hướng dẫn, người đó có thể tham khảo tại http://www.pbc21.com hoặc liên lạc với văn phòng Progressive Business Center, số phone (503) 568-8164, Email: pbc21info@gmail.com để được hướng dẫn tận tình.

Posted in Tác giả Huỳnh Quốc Bình, Đời Sống Quanh Ta | 1 Comment

Audio: Dạy Trẻ Như Bón Cây

Bài giảng 26 phút (DT)

Đề tài: Dạy Trẻ Như Bón Cây

Giảng luận: Huỳnh Quốc Bình

Posted in Đời Sống An Bình | Leave a comment